CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CP KÝ THUẬT VINAME. SƠ LƯỢC VỀ CÔNG TY Công ty Cổ phần kỹ thuật VINAME là một trong những công ty thành lập vào năm 2010. Đến nay đã trải qua gần 4 năm hoạt động và đang dần khẳng định vị trí của mình trên thị trường. Tên giao dịch : Công ty Cổ phần Kỹ thuật VINAME Địa chỉ : Số 15, ngách 97/167 ngõ Thái Thịnh 1, Quận Đống Đa, Tp Hà Nội Giám đốc/Đại diện pháp luật: Nguyễn Phi Sơn Mã số thuế: 0104965644 Ngày hoạt động: 20/10/2010 Hoạt động chính: +Thiết kế và lắp đặt hệ thống lò sưởi, + Thiết kế hệ thống điều hòa không khí, +Thiết kế và lắp đặt hệ thống cấp thoát nước.
+Thiết kế và lắp đặt hệ thống phòng cháy chữa cháy. Các đối tác của công ty: Panasonic , công ty Phần Mềm Sao Vàng (GSS) , LG Electronics(LG) công ty Cổ Phần Xây Dựng & TM Lân Phát …… II. NGÀNH NGHỀ KINH DOANH CHÍNH CỦA CÔNG TY Hoạt động chính: Thiết kế và sửa chữa thiết bị điện; lắp đặt máy móc và thiết bị công nghiệp; sửa chữa máy móc, lắp đặt hệ thống thông gió, hệ thống điện (không tái chế phế thải, xi mạ điện, gia công cơ khí tại trụ sở). Bán buôn đồ Chu Thị Thiêm – Lớp K2A – Khoa Kế Toán 6 Trường Đại Học Mở Hà Nội CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM LAO ĐỘNG -TIỀN LƯƠNG VÀ QUẢN LÝ LAO ĐỘNG, TIỀN LƯƠNG CỦA CÔNG TY CP KỸ THUẬT VINAME.
Đặc điểm lao động của công ty. Lao động là hoạt động chân tay và trí óc của con người nhằm tác động, biến đổi các vật tự nhiên thành những vật phẩm đáp ứng cho nhu cầu sinh hoat của con người. Trong mọi chế độ xã hội, việc sáng tạo ra của cải vật chất đều không tách rời lao động. Lao động là điều kiện đầu tiên, cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là yếu tố cơ bản nhất, quyết định nhất trong quá trình sản xuất.
Để cho quá trình tái sản xuất xã hội nói chung và quá trình sản xuất – kinh doanh ở các doanh nghiệp nói riêng được diễn ra thường xuyên, liên tục thì một vấn đề thiết yếu là phải tái sản xuất sức lao động. Người lao động phải có vật phẩm tiêu dùng để tái sản xuất sức lao động, vì vậy khi họ tham gia lao động sản xuất ở các doanh nghiệp thì đòi hỏi doanh nghiệp phải trả thù lao lao động cho họ. trong nền kinh tế hàng hóa, thù lao lao động được biểu hiện bằng thước đo giá trị và gọi là tiền lương. Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống cần thiết mà doanh nghiệp trả cho người lao động theo thời gian, khối lượng công việc mà người lao động đã cống hiến cho doanh nghiệp.
Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, các doanh nghiệp sử dụng tiền lương làm đòn bẩy kinh tế để khuyến khích tinh thần tích cực lao động, là nhân tố thúc đẩy dể tăng năng suất lao động. Đối với các doanh nghiệp, tiền lương phải trả cho người lao động là một yếu tố cấu thành Chu Thị Thiêm – Lớp K2A – Khoa Kế Toán 7 Trường Đại Học Mở Hà Nội nên giá trị sản phẩm, dịch vụ cho doanh nghiệp sáng tạo ra. Do vậy các doanh nghiệp phải sử dụng sức lao động có hiệu quả để tiết kiệm chi phí tiền lương. Nói cách khác: Tiền lương trả cho người lao động ,doanh nhiệp phải đảm bảo đúng chế độ tiền lương của Nhà nước,gắn với yêu cầu quản lí lao động,có tác dụng nâng cao kỷ luật và tăng cường thi đua lao động sản xuất, kích thích người lao đông nâng cao tay nghề và hiệu suất công tác.
Với nền kinh tế thị trường như hiện nay, việc sản xuất kinh doanh hàng hoá luôn có sự cạnh tranh gay gắt. Vì vậy các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được tất yếu phải sử dụng nguồn nhân lực một cách hiệu quả. Trong đó, vấn đề sử dụng lao động và thực hiện chế độ trả lương là vấn đề không kém phần quan trọng cho sự nghiệp phát triển của doanh nghiệp. Thực tế cho thấy, công ty CP Kỹ thuật VINAME đã xây dựng quy chế nội bộ và chi trả lương gắn liền với kết quả lao động nhằm khuyến khích cán bộ công nhân viên không ngừng nâng cao năng suất lao động, góp sức lực cho công ty ngày càng tốt hơn, đồng thời góp phần xây dựng công bằng xã hội, về thu nhập ở phạm vi nội bộ Công ty khi kết quả lao động tốt tất yếu sẽ tăng thu nhập chính đáng cho cán bộ công nhân viên trong công ty.
Vấn đề tiền lương, tiền thưởng đã thực sự thu hút sự quan tâm chú ý của người lao động. Tình hình lao động trong công ty CP Kỹ thuật VINAME: Hiện nay tổng số lao động của công ty là 255 người, số lao động này được chia làm hai bộ phận. - Bộ phận lao động trực tiếp sản xuất gồm: 180 người chiếm 58.3% số lao động chính trong Công ty. -Bộ phận lao động gián tiếp sản xuất gồm 75 người chiếm 41,7% tổng số lao động toàn Công ty.
Thời gian làm việc của bộ phận này là làm việc theo giờ hành chính theo quy định của Nhà nước. Chu Thị Thiêm – Lớp K2A – Khoa Kế Toán 8 Trường Đại Học Mở Hà Nội Bảng 1-1: Bảng cơ cấu lao động của công ty trong 2 năm 2011-2012 ĐVT: Người Chỉ tiêu 2011 2012 Tốc độ (%) -Cơ cấu lao động 215 255 18.6 +Trực tiếp 150 180 20 + Gián tiếp 65 75 15.4 -Trình độ lao động 215 255 18.3 +Lao động phổ thông 148 162 9.5 -Giới tinh lao động 215 255 18.5 +Nữ 4 7 75 - Độ tuổi lao động 215 255 18.6 +Từ 18 tuổi đến 35 tuổi 172 194 12.8 +Từ 35 tuổi đến 55 tuổi 43 61 41.8 (Nguồn: Phòng Kế Toán Công Ty) Chu Thị Thiêm – Lớp K2A – Khoa Kế Toán 9 Trường Đại Học Mở Hà Nội Qua bảng cơ cấu lao động của công ty trong 2 năm 2011 và 2012 ta thấy cơ cấu lao động tăng không đáng kể .Sự phát triển của công ty làm cho tổng số lao động tăng thêm 40 người với tỉ lệ 18.trong đó lao động trực tiếp tăng 30 người với tỉ lệ tương ứng 20%, và lao động gián tiếp tăng 10 người với tỉ lệ tăng tương ứng 15,4%. Trình độ lao động của công ty trong 2 năm đã có sự thay đổi đáng kể: trình độ đại học năm 2011 là 7 người ,năm 2012 lên tới 11 người.Tuy trình độ đại học của lao động không cao nhưng cũng đã có sự phát triển hơn so với năm 2011 là 57.Trình độ cao đẳng của lao động năm 2012 tăng so với năm 2011 là 7 ngưòi tương ứng với tỉ lệ 46.Trình độ trung cấp của lao động năm 2012 là 60 người,tăng hơn so với năm 2012 là 15 người với tỉ lệ 33. Do lĩnh vực hoạt động của công ty là thi công các công trình xây dựng nên hầu hết ngưòi lao động trong công ty là nam giới.Giới tính lao động nam của năm 2011 là 211 nam thì tới năm 2012 là 248 nam với tốc độ phát triển tương ứng là 17.Số lượng lao động nữ trong công ty chiếm tỉ lệ nhỏ :năm 2011 toàn công ty có 4 lao động nữ thì tới năm 2012 số lượng lao động nữ của công ty là 7 người tương tứng với 75%.Về độ tuổi lao động ,số lượng lao động có độ tuổi trong khoảng từ 18 tuổi đến 35 tuổi trong năm 2011 là 172 người thì năm 2012 là 194 người với tốc độ phát triển là 12.Số lượng lao động có độ tuổi từ 35 tuổi đến 55 tuổi trong năm 2011 là 43 ngưòi thì đến năm 2012 là 61 người tương ứng với tốc độ phát triển là 41.
Các hình thức trả lương của Công ty Việc tính và trả lương có thể thực hiện theo nhiều hình thức khác nhau tùy theo đặc điểm hoạt động kinh doanh, tính chất công việc và trình độ quản lý của từng doanh nghiệp, trên thực tế các doanh nghiệp hiện nay áp dụng hai hình thức trả lương cơ bản là hình thức trả lương thời gian và hình thức trả lương Chu Thị Thiêm – Lớp K2A – Khoa Kế Toán 10 Trường Đại Học Mở Hà Nội theo khối lượng sản phẩm (đủ tiêu chuẩn) do công nhân viên làm ra. Tương ứng với hai chế độ trả lương đó là hai hình thức tiền lương cơ bản: 1. Hình thức tiền lương thời gian: Là hình thức tiền lương tính theo thời gian làm việc, cấp bậc kĩ thuật và thang bảng lương của người lao động. Theo hình thức này tiền lương thời gian phải trả được tính bằng thời gian làm việc thực tế nhân với mức lương thời gian (áp dụng đối với từng bậc lương).
Tiền lương đựơc tính như sau: Ltt = Lcb x T Trong đó : Ltt - Tiền lương thực tế người lao động nhận được Lcb - Tiền lương cấp bậc tính theo thời gian. T - Thời gian làm việc. Có ba loại tiền lương theo thời gian đơn giản: + Lương giờ : Tính theo lương cấp bậc và số giờ làm việc + Lương ngày : Tính theo mức lương cấp bậc và số ngày làm việc thực tế trong tháng + Lương tháng : Tính theo mức lương cấp bậc tháng Tiền lương thời gian với đơn giá tiền lương cố định được gọi là tiền lương thời gian giản đơn.Tiền lương thời gian đơn có thể kết hợp chế độ tiền lương thưởng để khuyến khích người lao đọng hăng hái làm việc,tạo nên tiền lương thời gian có thưởng. Để áp dụng trả lương theo thời gian doanh nghiệp phải ghi chép thời gian làm việc và mức lương thời gian của người lao động.
Chu Thị Thiêm – Lớp K2A – Khoa Kế Toán 11 Trường Đại Học Mở Hà Nội Các doanh nghiệp thường áp dụng hình thức lương thời gian cho những công việc chưa xây dựng định mức lao động,chưa có đơn giá tiền lương sản phẩm (công việc hành chính,tạp vụ…)vì bản thân hình thức tiền lương này còn những hạn chế lớn là chưa gắn liền tiền lương với kết quả và chất lượng lao động,kém tính kích thích người lao động.Hình thức tiền lương theo sản phẩm : Là hình thức trả lương cho người lao động căn cứ vào số lượng ,chất lượng sản phẩm họ làm ra .Việc trả lương theo sản phẩm có thể tiến hành theo nhiều chế độ khác nhau .Tiền lương sản phẩm phải trả được tính bằng :Số lượng hoặc khối lượng công việc ,sản phẩm hoàn thành đủ tiêu chuẩn chất lượng nhân với đơn giá tiền lương sản phẩm: Việc xác định tiền lương sản phẩm phải trả dựa trên cơ sở các tài sản về hạch toán kết quả lao động.