mở đầu cho truyền thống khoa cử Việt Nam trong suốt thời kỳ từ thể kp XI đến thế kj XIX“ (1) Tuy vậy, việc tổ chức khoa cử của thời Lý chỉ mới là bước đầu. Mỗi khi nhà nước cần nhân tài thi mới mở khoa thi và chưa có quy định cụ thể về thời hạn, Nội dung thi là văn học và tư tưởng , Song có thể nói rằng việc mở các kỳ thi là một bước tiến lớn so với các triểu đai Dinh - Lê trước đó. Nó phản ánh bước phát triển của nhà nước trung ương tập quyền. Dưới triểu Ly , thí sinh chÏ hạn chế trong con em của tang lớn quan liêu, quý tộc.
Đến đời Trần ( 1225 - 1400), việc giáo dục được quan tâm nhiễu hơn,Có những quy định cụ thể về thời hạn : mười năm mở một kho thi.Khoa thi Thái học sinh d4u tiên mở vào năm 1232 dưới đời Trần Thái Tông. Khoa thi lấy đủ ba bậc ( tam giáp) và có đủ tam khôi. Yêu cầu của khoa thi là kiểm tra trình độ học vấn. Ngoài ra còn có những kỳ thi Lại viên, chỉ buộc người dự thi thảo các giấy tờ hành chánh ( gọi là bạ dâu), và phép viết, phép tính , Vua Trấn cho lập nhà học ð Phủ ThiênTường vào năm 1281.
Đây là lần đâu tiên trong lịch sử , trường học "Quốc lập” được tổ chức ở địa phương. Lại kinh đô Thăng Long thầnh lập Quốc tử viện, học sinh ở trường hay viện đều là con chấu tồn thất hay quan lại. Các quan được bổ dụng là người trong thần tộc, Mũi cho tiến năm 1304, Doan Nhữ Hài mới là si nhân ( học trò) râu tiên không phải là người tôn thất được cử tharn gia triểu chính , Như vậy nhà Trần đã tổ chức những kỳ thi thái học sinh ( tiến sĩ) và sang Han Lê ( 1428 - 1527) - một giai đoạn phát triển cực thịnh của chế đỏ phong kiến thì giáo dục mới thực sự đi vào khuôn phép chặt chẽ. Buổi đầu nhà Hậu Lê, triểu đình mở nhiều khoa thi để tuyển dụng quan lại.
Song trong những năm đó , tính chất tuyển dụng thất thường , chi khi nào cẩn thì nhà nước mới mở khoa thi tuyển dung và chưa có quy chế rõ ràng. Bat đâu từ thời Lê Thái Tông về sau việc thi cử mới đi vào qui cũ, nể nếp. Ngoài những kỳ thi Hương, thi [di thường lệ, thỉnh thoảng nhà nước còn mở những kỳ thi đặc biết Năm: 1449, Nhân Tông định lệ mở những kỳ thi lại điển để chọn người vào làm việc trong các cục ở kinh thành. Những kỳ thi lại điển không có kỳ hạn nhất định.
Vua Lê Thánh Tông mở khoa thi Nho thin (1467), khoa thi hoành từ ( cuối 1467), có tính chất khảo hạch các quan lại điển để định việc thăng thưởng và khuyến khích việc học tập của các si như. Mặc dù có nhiễu điển tiến bộ hơn so với thời Lý - Trấn nhưng nội dung giáo dục ở thời Lê cữũng như các triểu trước vẫn mé phỏng theo nên giáo đục phong kiến Trung Quốc, si tử déu phải thông hiển Tif thư, Ngũ kinh, và tham bác sách của Bách gia chư tử. Nhu cầu cẩn người để bổ sung vào đội ngữ quan lại trong triển ngày càng tăng , do vậy các khoa thi cũng được mở nhiễu hơn. Từ nam Thi€y Hình thứ 5 ( 1438) trồ đi, cứ ba năm có một khoa thi lương ở các dja phương để lấy sinh đổ và Hương Cống.
Cứ năm lrước thi Hương thì năm sau thi Hội. Những người đã đỗ Hương Cống déu được thi Hội và déu được dự kỳ điện thí trước mặt vua ,Trong kỳ thi nay, thí sinh chỉ phải làm một bài văn sách hỏi về phép dùng người , phép tri dân đời xưa. Kể từ năm 1484 Lê Thánh Tông mới quy định thứ bậc của những người trúng cách, thi Hội. Các tiến sĩ được khắc tên vào bia đi dựng ở Văn miếu và được vua ban cho mũ áo để làm lễ vinh quy.
Cá thể nói các vua đầu triểu Lê đểu có mối quan tâm đặc biệt đến gián dục và thi cử .Trong các kỹ thi Hội , nhà vua là người đích thin ra để văn sách, còn các kỳ thi Hương được tổ chức ở nhiễn nơi cùng môi lúc, nên nhà vua phải thường xuyên nhắc nhở thể lệ thi cử, quy định nhĩ: kỷ luật cần thiết và cử quan han lâm đi làm khảo quan. Nhờ vậy mà nhà nước đã lựa chọn được nhiễu người có tài năng để xây dựng dãi nước, Từ đời Lê, mỗi khoa thi , triểu đình cử các quan trường gỗm : một chánh chủ khảo, một phó chủ khảo, một trí cổng cử, hai viên chánh phó để điệu, hai viên giám đằng lục. có tất cả 9 trường thi. Hải Dương, Sơn Nam, Tam Giang, Kinh Bắc, An Bang, Tuyên Quang, 'Thanh Hoá, Nghệ An, Thuận Hoá.
Tuy khoa mục được mở rộng và những người đỗ đạt nhiễu, nhưng do cách chọn lựa công bằng, ké sĩ học rộng. mà triển đình đã không ding lắm phải người kém. Chế độ giáo dục của các triển đại phong kiến đã tạo điểu kiện cho các vua giữ gìn và xây dựng được non sông đất nước. Những thế ky XVI, XVII, cho đến cuối thé kỷ XVIIL, tình hình đất nước có nhiều biến động.
Triểu đình và bộ máy quan liêu trở nên suy nhược, hủ bại. Ba thế lực Mạc, Trịnh, Nguyễn tranh chấp nhau, luôn gây ra chiến tranh. Do vậy nến giáo dục chính quy cũng bất dâu bị“phế khoáng” và có nhiễu hạn chế, 10 Khi lên nắm quyển, nhà Mạc mở nhiễu khoa thi nhằm dao tao nuốt ting lớp sĩ phu mới bổ sung vào bộ máy thống trị. Nhà Mạc tiểu hash chế độ khoa cử còn vì lẽ nhằm tranh giành các sĩ phu với Nam triểu , rằng buộc các tríthức phong kiến, Theo những thể lệ đã có từ thời Lê, năm 1529 Mac Đăng Dung dựng bia đá ghi tên những người ining tuyển.
Nhưng nếu ở thời Lê Thánh Tông , việc lập bia đá là biểu hiện sự thịnh trị của đời Lê thì việc khoa cử, lập bia của nhà Mạc lại chỉ là những chính sách nhằm lôi kéo các sĩ phụ , đào tạo ra tầng lớn quan liễu làm cơ sở cho chính quyền. Dưới chế độ họ Trịnh, giáo dục và thi cử vẫn là hình thức chủ yếu trong việc đào tao quan lại. Cứ ba năm nhà Trịnh mở một khoa thi. Năm 1664, Trịnh Tac quy định diéu lệ thi Hội , ba năm mở một kỳ thi.
qua thi Hội , vào thi Đình. Quy chế thi cử hầu như không có gì thay đổi lớn, nhưng những người đi thi thì tỏ ra tiêu cực nhiều hơn so với thời dại trước. Việc gian lặn, mua bán trong thi cử cũng thường xuyên xây ra. Vào năm 1750, do thiếu tién nên nhà nước phải cho mỗi người di thi nộp ba quan để qua kỳ khảo hạch, nên số lượng người di thi đông đến nỗi xéo lên nhan chết ở cổng trường, Diéu đó đủ thấy rằng chế đô giáo dục đang trên đà xuống đốc.
Cuối thế kỷ XVIII, nến giáo dục nước nhà được chứng kiến mội sự kiện mdi do phong trào Tây Sơn khởi nghĩa tạo nên. Vua Quang Trung đã đưa ra nhiều chính sách tiến bộ, trong đó có chính sách giáo dục. Triểu Tây Sơn đã có ý kiến giáo dục rất mới, có thể nói là * cách mang”. Tổ chức nha học tận cấp x4, giao cho x4 chọn lấy thay để triển đình bé dụng.
Nhu vậy, giáo dục Việt Nam trước các vua triểu Nguyễn cho ta thấy rằng : khi chế độ phong kiến đang thịnh thì thể lệ thi cử rất nghiêm khắc, nhiễu khi là hạn chế đối với thành phan thi tuyển và nên giáo dục có thể đào tạo ra những người có năng lực dé giúp vua trị nước. Nhưng khi triểu đại này suy tan, sấp nhường chổ cho triển đại khác, cùng với sự suy thoái về chính trị, kinh 1€ thì giáo due efing phần ánh không ít tiêu cực của nó , Khi bằng cấp trở thành “logi vé” dặc biệt có thé trao đổi bằng tiên để vào các cửa, các nấc thang quan - chức bổng lộc, danh vọng. thi khoa cử trở thành miếng môi hấp dẫn với kẻ ham danh cầu lợi mà không có thực tài, Vì lẽ đó ma khoa trường đã tac nên * Sinh dé ba quan” do việc bon chen mua bán bằng clip. Do vậy H1 nên giáo dục đó cũng không thé tạo ra một tẳng lớp nho sĩ có thực tài theo ý muốn của giai cấp thống trị.
Chủ thích (1) Bùi Thạch Cẩn - Nguyễn Loan, Lan Phương * Những ông nghề ông cổng triểu Nguyễn" NXB văn hoá thông tin - Hà Nội 1995 - trang 13, 12 CHƯƠNG II TỔ CHỨC GIÁO DỤC VIỆT NAM DƯỚI CÁC VUA TRIEU NGUYEN 1. CHÍNH SÁCH CAU EN, Triểu Nguyễn là triểu đại cuối cùng trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. Ra đời sau gắn ba trăm năm phân ly, lòng dân chưa quy về một mối, các vua Nguyễn đều có những chính sách, biện pháp tích cực nhằm giữ vững vương triéu. Một trong những chính sách đó là chính sách cẩu hiển để lựa chọn nhân tài ra giúp chế độ.
Có thể nói rằng, hầu hết các vua Nguyễn déu là những người rất coi trọng nhân tii trong nước nên họ đã tích cực chuẩn bị, chủ động trong việc hỗi dưỡng nhân tài. Diễu nay dược phản ánh qua các du cfu hiển của các vua Nguyễn. Gia Long là ông vua đầu tiên của triển Nguyễn đã cho rằng : " khoa mục là con đường bằng phẳng của học trò, thực không thiếu được. Phải nên giáa dục thành tài, rỗi sau thi Hương, thì Hội lan lượt cit hành thì người hiển tài sẽ nổi nhau gián việc" (1) VÀ lắn lượt dat chức đốc học ở các trấn, cho xây đựng Quốc tử giám, tạo dựng cơ sở cho việc giáo dục , Kế đó, Minh Mang, trong thời gian tại ngôi cũng đã nhiều lần xuống dụ cầu hiển.
Năm Minh Mạng thứ tầm, vua bảo với cận thần JA I.ương Tiến Tường: * Trẩm từ khi ra chấp chính đến nay, chưa từng không lấy việc đào tạo nhân tài làm việc trước tiền, phàm người bổ dung déu là những người anh mình tài tuấn cả. Kip dén khi thử cho làm chính sw còn có nhiễu ké sơ xuất nhằm lỗi, đá đầu là tự mình ra.