PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Nhận thức sâu sắc những đổi mới trong mục tiêu chiến lƣợc phát triển giáo dục Việt Năm 2009-2020 về tầm nhìn giáo dục Việt Nam trong vòng 2 thập kỷ tới với kỳ vọng xây dựng một nền giáo dục Việt Nam mang bản sắc dân tộc; xây dựng xã hội học tập và đào tạo những ngƣời Việt Nam có năng lực tƣ duy độc lập sáng tạo, có khả năng thích ứng, hợp tác và năng lực giải quyết vấn đề, có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, có thể lực tốt, có bản lĩnh, trung thực, ý thức làm chủ và tinh thần trách nhiệm công dân gắn bó với lý tƣởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội…. với các mục tiêu chiến lƣợc đề cập đến quy mô giáo dục đƣợc phát triển hợp lý và chuẩn bị nguồn nhân lực có chất lƣợng đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hội nhập quốc tế, mặt khác tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi ngƣời. Về mặt giải pháp chiến lƣợc: thực hiện đào tạo gắn với nhu cầu xã hội, tạo điều kiện để các doanh nghiệp tham gia vào quá trình xây dựng và thực hiện chƣơng trình đào tạo, mở rộng các hình thức hợp tác giữa nhà trƣờng và doanh nghiệp trong đào tạo và sử dụng nhân lực, chuyển giao công nghệ.
Đây là những quan điểm rất mới soi lối và mở đƣờng cho giáo dục Việt Nam, tạo tiền đề cho sự đột phá của những phƣơng pháp giáo dục đào tạo, lâu nay đã đƣợc những ngƣời đứng trong đội ngũ giáo dục trăn trở và thao thức với sản phẩm trí tuệ của mình, một sản phẩm tuyệt vời trên tất cả mọi sản phẩm, một sản phẩm của con ngƣời Việt Nam mang đậm tính nhân văn và tính chiến đấu không hề khuất phục hay lùi bƣớc trƣớc khó khăn gian khổ để làm nên con ngƣời Việt Nam hôm nay. Vui mừng với những điều kiện thuận lợi trên chúng ta cũng không thể tránh khỏi băn khoăn với những mặt còn hạn chế trong sản phẩm đào tạo của mình. Dƣờng nhƣ còn thiếu… sản phẩm của chúng ta thừa sự thông minh nhƣng thiếu sự năng động,tự tin và sáng tạo trong môi trƣờng lao động, chƣa thực sự phát huy thế mạnh của tuổi trẻ, chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu thị trƣờng lao động, khi ra trƣờng. -1- Sản phẩm của chúng ta chƣa bắt kịp với thực tế lao động, cần nhiều thời gian để đƣợc đào tạo lại tại các doanh nghiệp.
Chúng ta nói nhiều về nguyên nhân và cũng đã thực hiện nhiều giải pháp để tạo sự thay đổi, thay đổi cho sản phẩm của chúng ta có thể đáp ứng nhu cầu phát triển đất nƣớc nói chung và trong môi trƣờng làm việc nói riêng, nhƣng cho đến ngày hôm nay giáo dục Viêt Nam vẫn còn nhiều trăn trở, vẫn còn day dứt để đi tìm lối đi cho chƣơng trình đào tạo vẫn còn mang nặng tính hàn lâm nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành, chƣa chú trọng đến việc phát huy năng lực hoạt động của HS, đào tạo chƣa gắn liền với yêu cầu xã hội, chƣa phù hợp với nhu cầu và khả năng của ngƣời học. Chúng ta còn trăn trở vì phƣơng pháp dạy học chƣa phát huy đƣợc năng lực chuyên môn, năng lực nhận thức, khả năng phản hồi để có tƣ duy sáng tạo và tinh thần tích cực tự học, chủ động tìm cách giải quyết từ sự trải nghiệm của bản thân. Chúng ta còn lo lắng vì những sản phẩm thông minh của chúng ta vẫn còn đơn độc trong chuyến hành trình hoàn thiện bản thân, chƣa thực sự phát huy đƣợc sức mạnh của một tập thể xung quanh mình, sức mạnh cần thiết trong chuyến hành trình đi vào thế kỷ 21, thế kỷ đầy ắp thông tin và kiến thức. Chỉ số kinh tế trí thức KEI4 (2012) là: 3.40/10 xếp thứ 104/146 quốc gia đƣợc phân loại, chất lƣợng nguồn nhân lực của Việt Nam so với thế giới chƣa đạt đến mức độ trung bình 2.
Để rút ngắn khoảng cách về chất lƣợng nguồn nhân lực của Việt Nam, đáp ứng về số lƣợng và chất lƣợng nguồn nhân lực cho sự nghiệp phát triển đất nƣớc và hội nhập thế giới. Đảng và nhà nƣớc ta đã đề ra chiến lƣợc phát triển giáo dục 2009- 2020 cụ thể là ở giáo dục nghề nghiệp là đến năm 2020 có 60% lao động ở độ tuổi lao động đã qua đào tạo và 95% trong số đó đƣợc các nhà tuyển dụng đánh giá là đạt yêu cầu công việc. Từ những lý do trên, các cơ sở giáo dục nói chung và từng bản thân của mỗi nhà giáo nói riêng đều có những suy nghĩ về thực trạng và những định hƣớng thiết thực và khả thi trong công tác chuyên môn nhƣ ứng dụng quan điểm dạy học, mô 4 Knowledge economics index. -2- hình dạy học thành công trên thế giới và khả thi tại Việt Nam nhằm tạo một thang điểm mới, thang điểm cao cho nhân lực Việt Nam (Thang điểm nhất thế giới hiện nay của sweeden với KI 9.43 và nguồn nhân lực là: 8.
Là một giảng viên của trƣờng ĐHYK PNTTP. HCM, một đơn vị chuyên đào tạo nguồn nhân lực về y tế cho các tỉnh phía nam và thành phố Hồ Chí minh, cũng đã từng trăn trở vì sản phẩm giáo dục của mình cần nhiều hơn nữa khả năng hành động xuất phát từ nhận thức, từ sự phản hồi trải nghiệm và quan trọng là sự giải quyết vấn đề hợp lý và xuất phát từ sự tự nhận thức, khả năng tƣ duy nhạy bén và giải quyết vấn đề hợp lý hợp tình khi đứng trên quan điểm một ngƣời ngƣời thầy thuốc tƣơng lai… Không chỉ đứng trên quan điểm của ngƣời thầy giáo mà còn là ngƣời quản lý nguồn nhân lực lao động, hơn ai hết ngƣời viết hiểu những điều cần thiết cho những sản phẩm của mình, nên chăng một bƣớc liên kết chặt chẽ hơn với môi trƣờng lao động, đặt hành động vào học tập, học tập từ chính việc làm của mình (Learning by doing) trong học tập hành động (Action Learning/AL) Học tập hành động (AL) là khả năng học tập từ sự phản hồi, từ sự làm việc, từ cách đặt câu hỏi … do chính bản thân ngƣời học và từ ngƣời khác, đem họ lại gần nhau hơn, tạo thành một nhóm và chính nơi đây họ có thể đạt đƣợc sự tƣơng trợ lẫn nhau, sự tự tin từ những ngƣời cùng làm việc với mình và phát triển những cách làm mới suy nghĩ mới nhiều năng động và hứa hẹn. Đƣa ra câu hỏi để giải quyết vấn đề không phải là thực tế đổi mới mà cách đây hàng ngàn năm nhà triết học lỗi lạc Socrates đã từng sử dụng quan điểm này và đƣợc diễn tả nhƣ “ Kỹ thuật hỏi” nhấn mạnh sự quan trọng của trải nghiệm, và phản hồi trong quá trình học tập cá nhân và học tập nhóm nhằm xóa bỏ mọi ngăn cách trong nhà trƣờng, nâng cao năng lực tự nhận thức, làm việc nhóm, kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề, biết tự trang bị và bổ sung hành trang vào đời, tự chỉnh sửa những lỗ hổng của trí thức, biết chọn lọc các kiến thức hiện đại đáp ứng đƣợc yêu cầu của nền kinh tế trí thức, yêu cầu học tập suốt đời…và quan trọng là sự nhạy cảm, cởi mở, đồng cảm trong mối quan hệ giữa ngƣời với ngƣời. -3- AL không phải là một khóa học mà là một chƣơng trình kết nối hành động trong vấn đề dựa trên công việc và học tập.
Hơn nữa, nó cung cấp cho ngƣời học một phƣơng cách làm việc mới, quản lý mới, phù hợp với mọi ngƣời bất kể là công việc quản lý hay công việc thƣờng nhật. AL trở thành một cách tiếp cận chính để mọi ngƣời thực hiện trong tất cả các lối đi của cuộc đời để đƣơng đầu với những thách thức trong cuộc sống. AL làm đƣợc nhƣ vậy vì ngƣời tham gia không chỉ giải quyết nhu cầu hàng ngày mà còn là tìm lối đi cho những câu hỏi hàng ngày, giải quyết những vấn đề khó xử xung quanh chúng ta, làm thế nào để đƣơng đầu với những khó khăn, làm thế nào để chuẩn bị năng lực lãnh đạo, làm thế nào để có nhiều sáng tạo…để giải quyết những vấn đề nhƣ vậy và để có thể thành công nếu nhƣ có sự hỗ trợ và tƣơng tác của đồng đội trong nhóm AL, đi tìm một giải pháp thích hợp trong chính sự trải nghiệm của mình, tiến hành giải pháp của chính mình tốt hơn là ngồi đơn giản lắng nghe những chuyên gia giải quyết vấn đề.… và trong quá trình thực hiện đó giúp con ngƣời ta mạnh mẽ hơn, tự tin hơn, bản lĩnh hơn đƣơng đầu với mọi thách thức. Do đó ngƣời nghiên cứu mạnh dạn chọn một hƣớng phát triển cho “những sản phẩm” của mình bằng cách trang bị cho họ một cách học nhƣ thế nào để họ có thể tự định hƣớng những quyết định của mình một cách hợp lý nhất trong những tình huống bất biến của cuộc đời, và để trang bị cho chuyến hành trình cuộc đời họ khả năng học tập suốt đời để hoàn thiện bản thân và làm đẹp cuộc đời.
Đó là lý do tác giả chọn đề tài: “Tổ chức dạy học thực tập lâm sàng theo định hƣớng học tập hành động (Action Learning) cho hệ Điều Dƣỡng môn VLTL/PHCN tại trƣờng ĐHYK PNT” 2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI Tổ chức dạy học thực tập lâm sàng theo định hƣớng học tập hành động môn VLTL/PHCN nhằm nâng cao năng lực thực hành nghề Điều Dƣỡng của học sinh trƣờng Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu và phân tích cơ sở lý luận về định hƣớng học tập hành động. - Các khái niệm cơ bản - Cơ sở lý luận dạy học hành động Nhiệm vụ 2: Nghiên cứu thực trạng dạy và học môn thực tập lâm sàng VLTL tại trƣờng ĐHYK PNT Nhiệm vụ 3: Xây dựng quy trình dạy học hành động cho môn VLTL tại trƣờng ĐHYK PNT Nhiệm vụ 4: Tổ chức dạy học thực nghiệm thực tập lâm sàng theo định hƣớng học tập hành động cho hệ điều dƣỡng môn VLTL/PHCN tại trƣờng ĐH Y PNT, nhận xét đánh giá về đề tài.
ĐỐI TƢỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 4.1 Đối tượng nghiên cứu - Tổ chức học tập định hƣớng hành động môn thực tập lâm sàng VLTL 4.2 Khách thể nghiên cứu - Hoạt động dạy và học lâm sàng của HS Điều dƣỡng môn VLTL/PHCN tại trƣờng ĐHYK PNT. - Giáo viên và học sinh trong dạy và học thực tập lâm sàng môn VLTL.