Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC BỘ MÁY CHÍNH QUYỀN ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TỈNH 1. Phân chia đơn vị hành chính lãnh thổ và chính quyền địa phương 1. Phân chia đơn vị hành chính lãnh thổ 1. Tổng quan chung về phân chia đơn vị hành chính lãnh thổ Lãnh thổ quốc gia của các nước đều được phân chia thành các đơn vị hành chính lãnh thổ nhằm để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước từng vùng lãnh thổ đó.
Không có nguyên tắc chung về phân chia lãnh thổ quốc gia thành các đơn vị hành chính lãnh thổ như thế nào để thống nhất chung. Tuy nhiên, theo thống kê chung, lãnh thổ quốc gia có thể chia thành nhiều cấp độ khác nhau và đánh số từ 1 đến 4. Và mỗi một cấp (cấp 1 đến cấp 4) có thề có những tên gọi khác nhau tùy theo từng quốc gia.1 mô tả cách phân chia đơn vị hành chính lãnh thổ của một số nước và tên gọi của từng đơn vị. Phân chia đơn vị hành chính lãnh thổ một số nước Tên Cấp 1 Cấp 2 Cấp 3 Cấp 4 và quốc gia thấp hơn Australia Nhà nước liên 562 đơn vị bang, chia hành chính thành 6 bang gắn với chính và 10 vùng quyền địa lãnh thổ phương Brunei Chia làm 4 Mỗi huyện Làng Không có huyện (4 chia thành xã (kampung) chính daerah- (38 mukim ) quyền địa daerah) phương tương ứng Buôn, làng 26 tỉnh (26 Huyện (150+ Xã (1400+ Cambodia (14000+ khêt ) srŏk) khum) phum) 20 Luan van Cũng có tài Thành phố Sngd, xã liệu ghi thủ đôPhnom Quận (khan) (sangkat) thêm khu Penh) phố (krom) Indonesia Chia thành 34 Quận, huyện, Xã, Buôn, làng tỉnh với 5 …(340+ kecamatan, (desa, khu đặc biệt kabupaten; distrik) kelurahan, cấp tỉnh (34 90+ kota) kampung) provinsi p including 5 daerah istimewa including Jakarta) Malaysia Chia thành 13 Tỉnh hoặc Xã (1000+ Làng, buôn bang và ba huyện (139 mukim) (8000+ vùng lãnh thổ daerah) kampung) liên bang Ba vùng lãnh thổ đặc biệt (3 Wilayah Persekutuan: Kuala 11 mukim 150+ Lumpur kampung Labuan 27 kampung Putrajaya 21 presint" Myanmar Chia làm 7 67 kayaing 330 [towns] vùng hay 7 townships [wards] bang; 1 vùng there are [villages] lãnh thổ liên 330 bang; 6 đơn vị townships in tự quản (7 Myanmar.[1] taing detha gyi (regions) 7 pyi-neh (states) Philippines Chia thành Tỉnh (81 Huyện (84 Xã (42027 vùng lalawigan 38 bahaging barangay ) malayang lungsod;151 lungsod 1 1 malayang karaniwang bayan ) bayan Singapore Chia thảnh 5 Đơn vị bầu cử Phường (89 huyện- Hội (29 Divisions/W 21 Luan van đồng phát constituencies) ards) triển cộng đồng(5 Districts) Thailand Tỉnh và khu Huyện (840+ Xã hay Buôn, làng vực thủ đô amphoe ) phường (chumchon (76 changwat; (tambon;in or muban) Bangkok; Bangkok:16 Pataya) 9 khwaeng) (Nguồn: https://vi.org) Đơn vị hành chính lãnh thổ cấp 1 có những tên gọi khác nhau, thường có thể gọi chung là tỉnh trong hệ thống các nước ASEAN.
Trong khi Nhật Bản và Trung quốc có tên gọi khác (prefecture). Bên dưới vùng lãnh thổ cấp 1 là các vùng lãnh thổ cấp 2 [1]. Tên gọi của đơn vị hành chính lãnh thổ cấp 2 cũng rất khác nhau. Có thể tam gọi chung là huyện.
Một số nước có thể có cách phân chia thành các vùng lãnh thổ khác nhau. Trong đó quan trọng nhất là phân chia để thành lập một chủ thể quản lý toàn diện các vấn đề của vùng lãnh thổ. Từng cấp đơn vị hành chính lãnh thổ có sự phân định giữa đơn vị hành chính lãnh thổ mang tính nông thôn và đơn vị hành chính lãnh thổ mang tính đô thị. Các loại đơn vị hành chính lãnh thổ trực thuộc tỉnh Bên dưới tỉnh như đã chỉ ra ở Bảng 1.1, có nhiều tên gọi khác nhau cho đơn vị hành chính lãnh thổ.
Tùy từng quốc gia có những tên gọi khác nhau. Ở Việt Nam tên gọi các đơn vị hành chính lãnh thổ cấp dưới tỉnh bao gồm: - Thành phố thuộc tỉnh; - Thị xã; - Huyện; - Quận. 22 Luan van Các nước trên thế giới cũng có tên gọi tương tự. Và có thể sử dụng chung cụm từ “district” như là huyện, nhưng có thể sử dụng cụm từ “municipality” như là cụm dân cư.
Chính quyền địa phương 1. Tổng quan về chính quyền địa phương Mỗi một đơn vị hành chính lãnh thổ đều gắn liền với một chủ thể quản lý các vấn đề thuộc lãnh thổ đó. Cách thức tổ chức chính quyền địa phương để quản lý các vấn đề của vùng lãnh thổ đó có thể theo những mô hình khác nhau. Hiện nay, có thể có nhiều cách thức tổ chức chính quyền địa phương đơn vị hành chính lãnh thổ.
Và mỗi một quốc gia có thể chọn cho mình một dạng riêng. Hai chủ thể đáng được chú ý của chính quyền địa phương là: - Hội đồng địa phương (Hội đồng) do nhân dân địa phương bầu ra để thay mặt nhân dân địa phương quản lý nhà nước các vấn đề thuộc địa bàn lãnh thổ; - Cơ quan chấp hành của Hội đồng địa phương nhằm triển khai tổ chức thực hiện các quyết định của Hội đồng. Một số dạng tổ chức chính quyền địa phương phổ biến Với hai nhóm yếu tố đó có thể tạo ra một số dạng tổ chức chính quyền địa phương. - Mô hình “Hội đồng mạnh, Thị trưởng yếu”: Theo mô hình này, Hội đồng không chỉ có thẩm quyền ra nghị quyết để quyết định các vấn đề của địa phương, mà còn có thẩm quyền trong việc tổ chức triển khai các hoạt động thông qua các cơ quan chuyên môn.
mô tả loại hình này. 23 Luan van - - Mô hình “Hội đồng yếu - Thị trưởng mạnh”: Chính quyền địa phương các cấp tổ chức theo mô hình này thì mọi quyền liên quan đến việc triển khai thực hiện. quyền nhân sự, quyền tổ chức bộ máy đều do người đứng đầu - Thị trưởng quyết định. Hội đồng chỉ là cơ quan nghị quyết, ít có quyền về các vấn đề trên.
Mô hình tổ chức Hội đồng yếu - Thị trưởng mạnh mô tả ở Sơ đồ 1. Hai mô hình trên, Thị trưởng và Hội đồng đều do cử tri địa phương bầu. Vấn đề khác nhau chỉ ở phân chia quyền lực liên quan đến nhân sự, bộ máy… trong việc triển khai thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước trên địa ban địa phương. - Mô hình “Hội đồng - Nhà quản lí chuyên nghiệp - Thị trưởng danh dự” Trong mô hình này, Hội đồng vẫn do cử tri bầu và một thị trưởng/chủ tịch/người đứng đầu hoặc do Hội đồng bầu hoặc do cử tri bầu.
Nhưng vị trí 24 Luan van chủ tịch, người đứng đầu mang tính đại diện lễ tân, ngoại giao, ít có quyền liên quan đến quản lý. Hội đồng sẽ tuyển dụng một nhà quản lý mang tính chuyên nghiệp để triển khai tổ chức thực hiện và được trao quyền để triển khai tổ chức thực hiện, bao gồm cả quyền về nhân sự, tổ chức bộ máy. Cách tổ chức này mô tả ở Sơ đồ 1. Nếu Thị trưởng do Hội đồng bầu, ít được trao quyền;chủ yếu thực hiện chức năng chính trị chung và chức năng đại diện danh dự trong các nghi lễ, không có các thẩm quyền hành chính quan trọng và quyền phủ quyết đối với các quyết định của Hội đồng.
Hội đồng sẽ tuyển dụng các nhà hành chính chuyên nghiệp theo một thời hạn nhất định để thực hiện các chính sách do Hội đồng đề ra. Nhà quản lí được trao để triển khai hoạt động quản lý. - Mô hình điều hành hoạt động quản lí thông qua ủy ban do Hội đồng bầu Hội đồng do nhân dân bầu ra sẽ bầu một tập thể gồm nhiều người, thường gọi chung là ủy ban chấp hành - cơ quan chấp hành. Cơ quan chấp hành hoạt động theo nguyên tắc tập thể, quyết định theo cơ chế đa số.
Tuy nhiên, Ủy ban thông thường có chủ tịch, các phó chủ tịch và các ủy viên UBND. Cơ chế tập thể làm cho tất cả thành viên ủy ban có quyền hạn 25 Luan van giống nhau đối với các quyết định của ủy ban. Nhưng đồng thời, chính Hội đồng bầu ra một người làm chủ tịch. Và trao cho người này những quyền hạn riêng, không phải thông qua cơ chế tập thể Ủy ban.
Và như vậy, các quyết định quản lý sẽ có hai dạng: dạng của Ủy ban (tập thể) và dạng của Chủ tịch Ủy ban (cá nhân). Thực tế ở những nước theo mô hình này, chưa phân định rõ hai loại quyết định trên nên tạo ra những xung đột nhất định trong quyết định chấp hành của Ủy ban đối với các quyết định của Hội đồng. Mô hình này mô tả ở Sơ đồ 1. Ngoài các mô hình trên, một số nước cụm từ chính quyền địa phương không gắn với hội đồng do cử trí địa phương bầu ra, chỉ đơn thuần cơ quan quản lý các vấn đề của địa phương do luật định và cách thức tổ chức do cơ quan quản lý nhà nước về tổ chức và nhân sự quyết định.
Vùng đô thị và chính quyền đô thị 1. Khái niệm, đặc trưng và phân loại đô thị 1. Khái niệm đô thị Đô thị là cụm từ dùng để chỉ một khu vực, một vùng lãnh thổ mang những tính chất, đặc điểm khác nhau về dân cư đô thị, mật độ dân số, tính chất lao động của dân cư hay về kết cấu hạ tầng kỹ thuật, vai trò, sự phát triển 26 Luan van kinh tế - xã hội. của một khu vực, vùng lãnh thổ.
Mỗi quốc gia khác nhau có những quy định, cách hiểu khác nhau về đô thị nhưng thông thường các đô thị phải thể hiện được vị trí, vai trò, chức năng trên các lĩnh vực chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa, khoa học, xã hội.; vai trò đối với sự phát triển của từng vùng hay trên phạm vi cả nước hoặc do đặc điểm lịch sử, vị trí địa lý của bản thân đô thị để lại. Tuy nhiên, dù tiếp cận theo góc độ nào thì khái niệm đô thị cũng thống nhất với nhau ở một tiêu chí “đô thị là điểm dân cư tập trung phần lớn những người dân hoạt động không phải là nông nghiệp, họ sống và làm việc theo kiểu thành thị”. Các đô thị trên thế giới đã có một quá trình hình thành và phát triển lâu dài. Các nhà đô thị học đã phân chia lịch sử phát triển đô thị thành bốn giai đoạn: cổ đại (từ năm 4.000 trước công nguyên đến năm 500 sau công nguyên); trung đại (từ năm 500 đến năm 1.500 sau công nguyên); cận đại (từ năm 1.800) và giai đoạn thứ tư từ năm 1.
Nhìn chung, các đô thị ngày nay đều mang đầy đủ giá trị về kinh tế, chính trị, hành chính, văn hóa, thể thao và du lịch.