Chương 1. Những vấn đề chung. Tính tự sự trong thơ Nguyễn Bính Chương 3. Một vài mô típ điển hình mang tính tự sự trong thơ Nguyễn Bính 7.
Đóng góp của luận văn 7. Về mặt lý thuyết - Giới thuyết được những nét cơ bản về tính tự sự trong thơ Nguyễn Bính. - Cách thức tư duy chủ yếu để khai thác tính tự sự trong thơ Nguyễn Bính một cách có hệ thống. - Những bình diện sáng tạo cơ bản trong thế giới nghệ thuật của Nguyễn Bính được soi chiếu từ một góc độ mới.
Về mặt thực tiễn Thơ Nguyễn Bính được đưa vào chương trình Ngữ văn phổ thông và chương trình ở bậc Đại học. Vì vậy, đề tài sẽ đóng góp thêm một nẻo tìm về hồn thơ Nguyễn Bính để người dạy, người học sẽ có cái nhìn sâu sắc hơn về một nhà thơ đã vốn rất sâu sắc và đằm thắm này. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 NỘI DUNG Chƣơng 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.
Khái niệm tự sự và trữ tình 1. Khái niệm tự sự Theo Từ điển thuật ngữ văn học: Tự sự là phương thức tái hiện đời sống trong toàn bộ tính khách quan của nó. Tác phẩm tự sự bao giờ cũng có cốt truyện. Gắn với cốt truyện là hệ thống nhân vật được khắc họa đầy đủ nhiều mặt hơn hẳn so với nhân vật trong thơ trữ tình và nhân vật kịch.
Genette: “Tự sự là trình bày một sự kiện hay một chuỗi sự kiện có thực hay hư cấu, bằng phương tiện ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ tự sự. Tự sự là một khái niệm rộng và có thế xét ở hai bình diện. Bình diện thứ nhất, tự sự như đồng nghĩa với “câu chuyện kể”, đối lập với miêu tả. Bình diện thứ hai, tự sự được xem xét theo hành động kể chuyện, như vậy ít nhất đã bao hàm vấn đề người kế chuyện (điểm nhìn, giọng điệu), người tiếp nhận được khảm trong văn bản, do sự lựa chọn đế đối thoại của người kể chuyện (mà không phải là người đọc cụ thể, mở rộng tới bất kì ai).
Như thế, văn bản tự sự có ba đặc điểm. Một là có người kể, hai là có hành động tự sự và ba là có sự kiện được kể ra. Sự kiện là một nền tảng của tự sự, nó tạo nên chuyện, câu chuyện, cốt chuyện (truyện); không có sự kiện thì không có tự sự. Đó là một nhận thức đã thành định lệ.
Khái niệm trữ tình Khái niệm trữ tình được hiểu theo hai nghĩa: thứ nhất, trữ tình là một trong ba phương thức miêu tả trong văn học; thứ hai, trữ tình là một loại văn học bên cạnh các loại tự sự, kịch. Ở nghĩa thứ nhất, khái niệm trữ tình để chỉ phương thức miêu tả của văn học, đó là phương thức thiên về diễn tả, bộc lộ cảm xúc. Theo nguyên nghĩa từ Hán Việt, “trữ” là thổ lộ, “tình” là tình cảm, cảm xúc. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Ở nghĩa thứ hai, khái niệm trữ tình để chỉ một loại tác phẩm văn học mà ở những tác phẩm này chủ yếu dùng phương thức trữ tình để miêu tả, các tác phẩm loại này được gọi là tác phẩm trữ tình.
Ta có thể chia tác phẩm trữ tình thành ba nhóm chính, gồm: thơ trữ tình, kí trữ tình và các thể văn chính luận nghệ thuật. Nếu như tác phẩm tự sự phản ánh đời sống thông qua các chi tiết, sự kiện, câu chuyện thì tác phẩm trữ tình tái hiện hiện thực thông qua cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ của con người. Tác phẩm trữ tình bao gồm nhiều thể loại như: thơ trữ tình, từ khúc, ca trù, tuỳ bút, thơ văn xuôi. Trong đó thơ trữ tình là thể loại tiêu biểu nhất, thường được người ta viện dẫn khi nói tới tác phẩm trữ tình.
Tái hiện các hiện tượng đời sống không phải độc quyền của phương thức tự sự, mà “phương thức trữ tình cũng tái hiện các hiện tượng của đời sống, như trực tiếp miêu tả phong cảnh thiên nhiên hoặc thuật lại ít nhiêu sự kiện tương đối liên tục, như Mƣa xuân của Nguyễn Bính, Quê hƣơng của Giang Nam, Núi đôi của Vũ Cao. Bài thơ Núi đôi của Vũ Cao- một bài thơ sẽ mãi đi cùng năm tháng sẽ mãi tồn tại như tình yêu lứa đôi và tinh yêu đất nước của dân tộc Việt. Chuyện kể về một câu chuyện có thật ở vùng Xuân Dục trong kháng chiến chống Pháp. Câu chuyện tình của một cô gái du kích trong làng yêu một anh trai làng, rồi anh đi bộ đội.
Khi anh trở về thì cô gái đã hy sinh. Giọng thơ tự sự đậm đà phong vị dân gian làm đẹp thêm mối tình kháng chiến, đồng thời tạo xúc động trước sự hy sinh của người con gái anh dũng. Lời dẫn chuyện của Vũ Cao tái hiện nguyên vẹn không khí những ngày kháng chiến, đánh thức bao cảm xúc của một thời bi hùng mà cũng ắp tràn thương nhớ của bao người. Sự hiện diện thường trực của hình tượng núi Đôi xuyên suốt những ngày chiến đấu là cách cắt nghĩa trọn vẹn ân tình với quê hương và thổi bùng ngọn lửa tình yêu mãnh liệt với cô gái Xuân Dục.
Bao tâm trạng được diễn tả: khắc khoải ngóng đợi, “trăm nghìn căm uất”, náo nức ngày trở lại. Tự thân những lời thơ đã làm đẹp thêm bao nhiêu bóng hình người yêu trong tâm tưởng người chiến sĩ. Hình ảnh kỷ niệm yêu thương, nỗi đau rất thật ấy không của riêng ai bởi không chỉ là sự mất mát của anh mà là của cả quê hương, bởi “em sống trung thành, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 chết thủy chung”. Đó không hề là cảm giác bi lụy mà mang tính chất bi kịch, giúp người đọc ý thức được giá trị của chiến thắng.
Nhưng sự tái hiện này không mang mục đích tự thân, mà tạo điều kiện đề chủ thể bộc lộ những cảm xúc, chiêm nghiệm, suy tưởng của mình. Trong Núi đôi mỗi lời kể như dao cứa vào tim, nhưng lạ thay lại làm ta thêm yêu mến, trân trọng người con gái sắt son anh dũng. Con người có thể không còn, nhưng tình yêu là bất tử, nó đã hoà chung với tình yêu lớn lao với quê hương, xóm làng, cha mẹ…Quê hương hồi sinh, đau xót nguôi ngoai nhưng không đem đến với con người sự quên lãng mà đã nhân lên thành tình cảm cách mạng, thành lời thề thiêng liêng. Ở đây nguyên tắc chủ quan là nguyên tắc cơ bản trong việc chiếm lĩnh hiện thực, là nhân tố cơ bản quy định những đặc điểm cốt yếu của tác phấm trữ tình.
Tác phẩm trữ tình biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của con người: Hoài Thanh - Hoài Chân trong cuốn "Thi nhân Việt Nam" (1942) có viết: "Phong trào Thơ mới lúc bột phát có thể xem là một cuộc xâm lăng của văn xuôi. Văn xuôi tràn vào đĩa hạt thơ, phá phách tan tành. Một đặc tính của văn xuôi là nói nhiều. Cho nên, trong thời bấy giờ thi tứ hình như giãn ra" [45, 36].
Nói như vậy để thấy rằng, nghệ thuật nói chung, văn học nói riêng là sự biểu hiện thế giới chủ quan của con nguời trước cuộc đời. Tuy nhiên, do phuơng thức tố chức, do kiểu tái hiện đời sống và do sự giao tiếp nghệ thuật khác nhau nên sự biểu hiện đó ở những loại tác phẩm văn học cũng khác nhau. Trong tác phẩm trữ tình; tình cảm, cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ. được trình bày trực tiếp và làm thành nội dung chủ yếu của tác phẩm.
Ở đây, nhà thơ có thể biểu hiện cảm xúc cá nhân mình mà không cần kèm theo bất cứ một sự miêu tả biến cố, sự kiện nào. Trong bài ca dao: Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương Nhớ ai dãi nắng dầm sương Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Bài ca trên thế hiện tình cảm của người ra đi đối với quê hương, đối với người thương., là nỗi buồn, là sự nhớ nhung lúc xa xôi cách trở. Ngoài những tình cảm, nỗi niềm đó, người đọc không biết gì cụ thể hơn về chàng trai và cô gái, về mối quan hệ cụ thể của hai người với nhau.
Bài Nguyên đán của Xuân Diệu cũng thể hiện rõ đặc điểm này: Xuân của đất trời nay mới đến Trong tôi xuân đến đã lâu rồi Từ độ yêu nhau hoa nở mãi Trong vườn thơm ngát của hồn tôi. Trong bốn câu thơ trên, không hề có mâu thuẫn, xung đột như trong kịch, cũng không có những biến cố, sự kiện, hệ thống sự kiện nào. Điều mà người đọc cảm nhận chủ yếu là niềm vui, hạnh phúc, là tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình. Đối với Xuân Diệu, khi tâm hồn ngập tràn tình yêu thì đó cũng là lúc hoa nở và đó chính là mùa Xuân.
Chúng ta đang sống trong mùa Xuân nhưng bên ngoài vẫn còn mưa lạnh và tâm hồn chúng ta có lẽ cũng đang giá lạnh cho nên có ai nói đây là Xuân chúng ta cũng chẳng thấy Xuân đâu cả. Nếu có Xuân thì đó chính là những rung động trong tâm hồn, những giạt giào trong tư tưởng, tin yêu trong linh hồn. Mùa Xuân vì vậy là ở trong tâm hồn hơn là ngoại cảnh. Như vậy, từ ca dao đến những tác phẩm thơ ca hiện đại, người đọc cảm nhận trước hết là thế giới nội tâm, là thái độ xúc cảm và tâm trạng của nhân vật trữ tình đối với con người, cuộc đời và thiên nhiên.
Nhà thơ có thể không cần phải miêu tả kỹ về con người và những nguyên nhân cụ thế dẫn tới những tình cảm đó. Điều này chứng tỏ sự biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của tác giả là đặc điểm tiêu biểu, đầu tiên của tác phẩm trữ tình. Tác phẩm trữ tình phản ánh thế giới khách quan nhằm biếu hiện thế giới chủ quan Tác phấm trữ tình biểu hiện cảm xúc chủ quan của nhà thơ nhưng điều đó cũng được xác lập trong mối quan hệ giữa con người và thực tại khách quan. Bởi vì mọi cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của con người bao giờ cũng đều là cảm xúc về cái LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 gì, tâm trạng trước vấn đề gì.
Do đó, hiện tượng cuộc sống vẫn được thế hiện trong tác phẩm trữ tình. Người ta có thể bắt gặp một bài thơ miêu tả một bức tranh phong cảnh thiên nhiên. Trong bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, ngoài những nét chấm phá về một bức tranh thiên nhiên với những vẻ đẹp nhẹ nhàng, tinh tế. là tâm trạng và cảm xúc của nhà thơ.