Nghiên cứu: Tình trạng lo âu ở người bệnh trước can thiệp mạch vành tại BV Tim Hà Nội

Nghiên cứu đánh giá tình trạng lo âu ở người bệnh trước can thiệp mạch vành qua da tại Bệnh viện Tim Hà Nội và các yếu tố ảnh hưởng liên quan.

Trường đại học

Trường Đại học Thăng Long

Chuyên ngành

Điều dưỡng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2024

99
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và định nghĩa về lo âu trước can thiệp mạch vành

Lo âu trước can thiệp mạch vành qua da là một tình trạng tâm lý phổ biến ở những bệnh nhân chuẩn bị phải trải qua một cuộc can thiệp tim mạch quan trọng. Đây là một rối loạn cảm xúc tự nhiên, xuất phát từ sự lo lắng về kết quả của thủ thuật, những biến chứng có thể xảy ra, và quá trình phục hồi sau can thiệp. Theo các nghiên cứu y tế, tình trạng lo âu không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần mà còn tác động tiêu cực đến hiệu quả điều trị và thời gian nằm viện. Người bệnh có thể trải nghiệm các triệu chứng như tim đập nhanh, khó thở, mệt mỏi và giảm chất lượng giấc ngủ. Việc hiểu rõ bản chất của lo âu bệnh nhân là bước đầu tiên để xây dựng các can thiệp điều dưỡng hiệu quả và cải thiện trải nghiệm của bệnh nhân tại bệnh viện.

1.1. Sự khác biệt giữa lo âu bình thường và lo âu bệnh lý

Lo âu bình thường là phản ứng tự nhiên của con người khi đối mặt với những tình huống gây căng thẳng. Tuy nhiên, lo âu bệnh lý ở bệnh nhân trước can thiệp mạch vành là một trạng thái kéo dài, mạnh mẽ và ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống. Các bệnh nhân có rối loạn lo âu thường khó kiểm soát suy nghĩ tiêu cực, điều này có thể dẫn đến những quyết định bất lợi cho sức khỏe.

1.2. Các yếu tố gây ra lo âu trong bối cảnh can thiệp tim mạch

Nhiều yếu tố đóng góp vào tình trạng lo âu của bệnh nhân, bao gồm sợ hãi về đau đớn, lo sợ biến chứng, thiếu hiểu biết về thủ thuật, và áp lực tâm lý từ gia đình. Bệnh nhân mắc bệnh động mạch vành thường gặp phải những lo lắng về tính sai-yếu của tim mình. Các yếu tố xã hội, kinh tế cũng có thể làm tăng mức độ lo âu trước can thiệp.

II. Đặc điểm lâm sàng và biểu hiện của lo âu ở bệnh nhân

Các biểu hiện của lo âu trước can thiệp mạch vành qua da rất đa dạng, thể hiện ở cả mức độ thể chất và tâm lý. Bệnh nhân thường trình bày những triệu chứng như tim đập nhanh, khó thở, mồ hôi lạnh, run tay chân và cảm giác tức tưởi ở ngực. Ngoài ra, lo âu bệnh nhân cũng được biểu hiện qua những thay đổi về hành vi như tính cáu kỉnh, mất tập trung, chứng mất ngủ, và sự cô lập xã hội. Thang đánh giá Hamilton Anxiety Rating Scale (HARS) được sử dụng phổ biến để đo lường mức độ lo âu ở bệnh nhân. Việc nhận biết sớm những biểu hiện này sẽ giúp đội ngũ y tế can thiệp kịp thời, từ đó cải thiện kết quả điều trị.

2.1. Các triệu chứng thể chất của lo âu

Triệu chứng thể chất của lo âu trước can thiệp bao gồm huyết áp cao, tim đập không đều, và cảm giác tức ngực. Bệnh nhân cũng báo cáo mệt mỏi, chóng mặt, và các vấn đề tiêu hóa như buồn nôn hay biếng ăn. Những dấu hiệu này có thể làm phức tạp thêm tình trạng bệnh mạch vành hiện có.

2.2. Những thay đổi hành vi và tâm lý khi lo âu

Lo âu bệnh nhân tác động lên sự tập trung, trí nhớ và khả năng ra quyết định. Bệnh nhân thường có suy nghĩ tiêu cực về kết quả can thiệp động mạch vành, điều này cản trở quá trình chữa bệnh. Rối loạn tâm lý này đòi hỏi sự hỗ trợ tâm lý chuyên sâu và chuẩn bị kỹ lưỡng.

III. Các yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu

Nghiên cứu tại Bệnh viện Tim Hà Nội năm 2023 đã xác định nhiều yếu tố liên quan đến lo âu ở bệnh nhân trước can thiệp mạch vành qua da. Các yếu tố đặc điểm cá nhân như tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn, và trạng thái hôn nhân đều có tác động nhất định. Những bệnh nhân cao tuổi, độc thân, hoặc có trình độ học vấn thấp thường có mức độ lo âu cao hơn. Các yếu tố lâm sàng bao gồm tiền sử bệnh tim mạch, số lượng mạch vành bị tổn thương, và các bệnh mắc kèm như cao huyết áp hay tiểu đường cũng ảnh hưởng đáng kể. Ngoài ra, công tác chuẩn bị trước can thiệp, bao gồm cơ hội được tư vấn, giáo dục sức khỏe, và sự hỗ trợ từ gia đình, đều là những yếu tố quan trọng trong việc giảm lo âu bệnh nhân.

3.1. Yếu tố cá nhân và xã hội ảnh hưởng đến lo âu

Đặc điểm cá nhân như giới tính nữ, độc thân, hoặc sống xa gia đình thường liên quan đến lo âu cao hơn. Các yếu tố xã hội bao gồm hỗ trợ từ gia đình, tình trạng kinh tế, và điều kiện sống cũng đóng vai trò quan trọng. Bệnh nhân thiếu sự hỗ trợ xã hội dễ bị rối loạn lo âu nặng hơn.

3.2. Yếu tố lâm sàng và các bệnh mắc kèm

Bệnh nhân có bệnh động mạch vành nặng hoặc các biến chứng tim mạch khác thường có lo âu cao hơn. Bệnh tiểu đường, cao huyết áp,béo phì là những bệnh mắc kèm phổ biến làm tăng lo âu trước can thiệp. Số lượng mạch bị tắc cũng ảnh hưởng đến mức độ lo lắng của bệnh nhân.

IV. Can thiệp điều dưỡng giảm lo âu cho bệnh nhân

Để giảm lo âu trước can thiệp mạch vành qua da, đội ngũ điều dưỡng cần thực hiện các can thiệp điều dưỡng toàn diện. Việc tư vấn và giáo dục sức khỏe về quá trình can thiệp động mạch vành, những gì bệnh nhân sẽ trải nghiệm, và các biện pháp chăm sóc sau can thiệp rất quan trọng. Bệnh nhân cần được chuẩn bị tâm lý thông qua các buổi nói chuyện với y tế viên, nhân viên tâm lý, hoặc những bệnh nhân đã phẫu thuật thành công. Kỹ thuật thư giãn, thiền định, và hô hấp sâu được chứng minh là hiệu quả trong việc giảm lo âu bệnh nhân. Sự hỗ trợ từ gia đình và bạn bè cũng rất cần thiết. Các can thiệp điều dưỡng nhân văn, lắng nghe, và tạo môi trường an toàn sẽ giúp bệnh nhân cảm thấy được quan tâm và tin tưởng, qua đó giảm thiểu lo âu và cải thiện chất lượng cuộc sống trước và sau can thiệp tim mạch.

4.1. Các biện pháp giáo dục sức khỏe và tư vấn cho bệnh nhân

Giáo dục sức khỏe cần bao gồm thông tin chi tiết về quá trình can thiệp mạch vành, cách chuẩn bị, và những gì mong đợi sau thủ thuật. Bệnh nhân nên được tư vấn về các biến chứng có thể xảy ra nhưng với sự nhấn mạnh vào tỷ lệ thành công cao. Can thiệp điều dưỡng này giúp bệnh nhân có sự hiểu biết rõ ràng, từ đó giảm sợ hãi và lo âu bệnh nhân đáng kể.

4.2. Kỹ thuật thư giãn và hỗ trợ tâm lý trong quá trình chuẩn bị

Các kỹ thuật thư giãn như thiền định, hô hấp sâu, và massage được khuyến cáo để giảm lo âu. Sự hỗ trợ từ nhân viên tâm lý hoặc các can thiệp điều dưỡng về mặt cảm xúc rất cần thiết. Gia đình nên được đào tạo để hỗ trợ bệnh nhân trước, trong, và sau can thiệp động mạch vành, tạo ra một mạng lưới hỗ trợ xã hội mạnh mẽ.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về bệnh động mạch vành 1. Khái niệm về bệnh động mạch vành Bệnh động mạch vành (ĐMV) được định nghĩa là tình trạng hẹp > 50% lòng mạch của bất cứ nhánh ĐMV nào, nguyên nhân chủ yếu do xơ vữa động mạch. Xơ vữa ĐMV đặc trưng bởi sự bám cứng của mảng vữa xơ vào thành ĐMV gây hẹp lòng mạch, làm giảm lượng máu nuôi dưỡng vùng cơ tim mà nhánh ĐMV đó chi phối, là nguyên nhân gây ra cơn đau thắt ngực ổn định - biểu hiện đặc trưng của thiếu máu cơ tim mạn tính.

Khi mảng xơ vữa không ổn định có thể nứt vỡ cùng với huyết khối tạo lập bên trên làm hẹp khít hoặc tắc ĐMV gây nên hội chứng vành cấp (HCVC) bao gồm đau ngực không ổn định, nhồi máu cơ tim (NMCT) có ST chênh lên và không có ST chênh lên [53]. Bệnh ĐMV là bệnh thường gặp ở các nước công nghiệp phát triển và đang gia tăng nhanh chóng ở nước ta. Đây là một bệnh nặng có nhiều biến chứng, nguy hiểm cho tính mạng người bệnh [60] 1. Sự hình thành và nứt vỡ mảng xơ vữa - cơ chế bệnh sinh của bệnh ĐMV 1.

Sự hình thành tổn thương xơ vữa ĐMV Huyết khối - xơ vữa là một bệnh hệ thống ảnh hưởng lên thành mạch máu, được đặc trưng bởi khuynh hướng tích tụ lipid, tế bào viêm, tế bào cơ trơn và các chất ngoại bào vào lớp dưới nội mạc và tiến triển tới những giai đoạn khác nhau không thể dự đoán trước. Cơ chế sinh học và phân tử liên quan đến sự khởi đầu và tiến triển của mảng xơ vữa đã được nghiên cứu tích cực trong những thập niên qua và đã đưa ra những khái niệm mới về "sinh học mạch máu". Hai thập niên qua đã làm sáng tỏ vai trò then chốt của lớp nội mạc trong tiến trình tạo mảng xơ vữa. Nội mạc là một lớp đơn tế bào lót mặt trong của toàn bộ hệ thống cây mạch máu.

Với diện tích cực kỳ lớn ước chừng 150m2 và vị trí ở bên trong mạch máu, nó giúp điều hoà sự tưới máu, tính thấm thành mạch và sự thoát dịch của mạch máu. Nội mạc là một cơ quan tự tiết và từ đó nó giúp điều hoà sự co thắt, sự tiết, hoạt động phân bào trong thành mạch và huyết động trong lòng mạch. Rối loạn chức năng nội mạc là kết quả từ những tổn thương dẫn đến các đáp ứng bù trừ làm thay đổi các tính chất cân bằng nội môi bình thường của nội mạc. Vì vậy, các hình thức khác nhau của tổn thương làm tăng tính nhạy cảm của 3 nội mạc liên quan đến bạch cầu hoặc tiểu cầu, cũng như tính thấm của nó.

Tổn thương này cũng làm cho nội mạc hình thành các protein gây đông máu thay vì các đặc tính chống đông và tạo thành các phân tử hoạt động gây co mạch, cytokine và các yếu tố tăng trưởng. Nếu phản ứng viêm không trung hòa hoặc loại bỏ các tác nhân gây hại, nó có thể tiếp tục mất chức năng bảo vệ. Khi làm như vậy, phản ứng viêm kích thích sự di chuyển và tăng sinh của các tế bào cơ trơn trở nên xen kẽ với diện tích viêm để hình thành tổn thương trung gian. Nếu những đáp ứng này tiếp tục không suy giảm, chúng có thể làm dày thành mạch, bù lại bằng sự giãn nở dần dần, để đến một điểm, lòng mạch không bị thay đổi, hiện tượng được gọi là “tái cấu trúc”.

Bạch cầu hạt hiếm khi có mặt trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình sinh xơ. Thay vào đó, đáp ứng được trung gian bởi các đại thực bào có nguồn gốc monocyte và các phân nhóm cụ thể của các tế bào lympho T ở mọi giai đoạn của bệnh 1. Nứt vỡ mảng xơ vữa, hình thành huyết khối và hậu quả trên lâm sàng * Nứt vỡ mảng xơ vữa, hình thành huyết khối Giải phẫu tử thi của những bệnh nhân chết vì biến cố NMCT cấp cho thấy những tổn thương xơ vữa thủ phạm có những đặc điểm chung. Những tổn thương dễ nứt vỡ (vunlnerable lesion) nguy cơ cao thì đặc trưng về mặt mô học bởi sự hiện diện của những mảng xơ vữa lệch tâm, chứa lõi giàu lipid mà nằm ngăn cách với lòng mạch máu bởi lớp vỏ xơ mỏng.

Lớp vỏ xơ này thường có nhiều đại thực bào và tế bào lympho T. Sự có mặt của những đại thực bào và tế bào lympho T đã hoạt hoá quanh vùng đứt gãy của mảng xơ vữa dễ vỡ dẫn đến giải thuyết về yếu tố viêm quan trọng trong nứt vỡ mảng xơ vữa. Khi chụp mạch, những tổn thương nhỏ có thể liên quan với tiến triển nhanh chóng đến hẹp nặng hay tắc hoàn toàn. Mức độ nứt vỡ mảng xơ vữa hay lớp bề mặt bị tổn thương lộ ra là những yếu tố quan trọng quyết định sự hình thành huyết khối tại vị trí ĐM nào đó.

Thực tế khả năng sinh huyết khối của mảng xơ vữa bị vỡ có thể được dự đoán bởi các thành phần của chúng trên hoạt động yếu tố mô. Trong một thực nghiệm mà trên đó mảng xơ vữa ĐM bị vỡ tiếp xúc với dòng máu có tốc độ cao, lõi lipid là thành phần sinh huyết khối mạnh nhất. Lõi lipid cũng cho thấy thấm yếu tố mô mạnh nhất so với các thành phần khác. Tắc nghẽn ĐMV do nứt vỡ mảng xơ vữa và hình thành huyết khối bên trên, là nguyên nhân hàng đầu của HCVC hay đột tử do bệnh ĐMV.

Sự nứt vỡ mảng xơ vữa là 4 Thư viện ĐH Thăng Long yếu tố nền tảng chính của tạo huyết khối gây ra HCVC. Về mặt mô học, những tổn thương dễ vỡ bao gồm một lõi lipid ngoại bào lớn, nhiều đại thực bào chứa lipid, ít tế bào cơ trơn, vỏ xơ mỏng và một lớp kem cứng ở nhiệt độ phòng và mềm hơn ở nhiệt độ cơ thể. Do đó những mảnh xơ vữa mềm thì ít ổn định và có khả năng vỡ cao hơn những mảnh nhiều mô sợi. Vỡ mảng xơ vữa thường xảy ra nơi yếu nhất, là nơi vỏ xơ mỏng và có nhiều tế bào bọt nhất.

Những đại thực bào đã hoạt hoá có nhiều trong mảng xơ vữa và tiết ra các enzym tiêu protein, có khả năng tiêu huỷ collagencollagen như MMPs và làm mất ổn định mảng xơ vữa. Do đó, vỡ mảng xơ vữa cũng là một biến chứng muộn của quá trình viêm mạn tính Mảng xơ vữa vỡ ra Xuất huyết từ Lớp bao xơ mỏng mảng xơ vữa vi mạch Hình 1. Nứt vỡ mảng xơ vữa Khi vỡ ra, những mảnh vụn của mảng xơ vữa bao gồm nhiều đại thực bào và TF, là những thành phần sinh huyết khối mạnh nhất của mảng xơ vữa. TF là một glycoprotein trọng lượng phân tử thấp ở bề mặt tế bào, nó được biểu lộ trên tế bào nội mô, tế bào đơn nhân và tế bào cơ trơn khi đáp ứng với nhiều kích thích bao gồm LDL oxy hoá.

TF là một yếu tố điều hoà chính của đông máu, nội mô và huyết khối, có khả năng kích hoạt dòng thác đông máu cả nội sinh và ngoại sinh, dẫn đến tạo thrombin, hoạt hoá tiểu cầu và lắng đọng fibrin. * Hậu quả trên lâm sàng 5 Tổn thương xơ vữa trong cây ĐMV có thể gây ra thiếu máu cục bộ mạn tính do hẹp lòng mạch trực tiếp (tổn thương ổn định) hay HCVC do tạo cục huyết khối trong lòng mạch cấp tính (tổn thương không ổn định). Hậu quả lâm sàng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ và sự cấp tính của tắc nghẽn mạch, thời gian giảm tưới máu, và nhu cầu oxy tương đối tại thời điểm tắc nghẽn. Ở bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn tính, đau thắt ngực thường do tăng nhu cầu oxy cơ tim vượt quá khả năng cung cấp.

Nguy cơ của biến cố cấp tính đối với bệnh nhân bệnh ĐMV cơ bản phụ thuộc vào có bao nhiêu tổn thương xơ vữa dễ vỡ hiện diện. Trong một nghiên cứu về siêu âm trong lòng mạch (IVUS) 3 nhánh ĐMV ở các bệnh nhân HCVC, có ít nhất một mảng xơ vữa bị đứt gãy ngoài tổn thương thủ phạm trong hầu hết các trường hợp (79%). Các tổn thương này thấy ở một ĐM khác hơn là ĐM thủ phạm trong 70.8% trường hợp, và nó được nhìn thấy ở hai ĐM khác trong 12.5% trường hợp. IVUS cả 3 nhánh ĐMV ở bệnh nhân HCVC thấy được nhiều vị trí nứt vỡ mảng xơ vữa, nhiều tổn thương xuất hiện đồng thời với tổn thương thủ phạm; thường gặp tổn thương nằm ở gốc 3 nhánh, và nhiều tổn thương xơ vữa ở vị trí khác với tổn thương thủ phạm, thường ít nặng nề hơn, ít vôi hoá [58].

Những phát hiện lâm sàng đã hỗ trợ những hiểu biết hiện tại của chúng ta về sinh lý bệnh học của bệnh ĐMV. Bệnh ĐMV không chỉ là một vấn đề cơ học đơn giản, mà sự phát triển tổn thương xơ vữa là một quá trình sinh học phức tạp. Sự chuyển đổi thành mảng xơ vữa không ổn định được đặc trưng bởi tích luỹ lõi lớn hoại tử chứa lipid ngoại bào, đại thực bào và thường có vôi hoá vi thể. Những vị trí dễ vỡ, không ổn định này thường không hẹp nhiều trước khi vỡ vì sự tích luỹ của mảng xơ vữa được điều tiết bởi quá trình tái cấu trúc, làm giảm hẹp lòng mạch.

Cả quá trình tái cấu trúc và vỡ mảng xơ vữa liên quan với phản ứng viêm, hỗ trợ vai trò của viêm hệ thống ở những bệnh nhân có nguy cơ cao HCVC. Các biến chứng can thiệp động mạch vành Chụp và can thiệp động mạch vành thủ thuật xâm lấn nên vẫn có thể xảy ra những nguy cơ nhất định. Những rủi ro của thủ thuật này bao gồm chảy máu, nhiễm trùng, phản ứng dị ứng với thuốc cản quang, nguy cơ tổn thương mạch máu, đột quỵ vàsuy thận. Ngoài ra, cũng có trường hợp các stent đã đặt có thể bị tắc hay hẹp lại gây thiếu máu cơ tim và cần phải can thiệp lại.

Nhưng với sự tiến bộ của y học về cả trang thiết 6 Thư viện ĐH Thăng Long bị và kỹ thuật, chúng ta cũng không nên quá lo lắng về các nguy cơ này, vì theo thống kê của các nghiên cứu lớn trên thế giới, các tai biến cần can thiệp cấp cứu hay tử vong liên quan đến kỹ thuật này là khá thấp (dưới 1%). - Rơi stent trong quá trình can thiệp: hiện tượng stent trượt khỏi bóng khi stent chưa được nong lên và chưa đưa vào đúng vị trí tổn thương trên động mạch vành trong quá trình can thiệp động mạch vành qua da [7],[28].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ