Tài liệu Y tế: Tình trạng lo âu trầm cảm trước phẫu thuật của người bệnh

Nghiên cứu phân tích tình trạng lo âu trầm cảm ở bệnh nhân trước phẫu thuật và các yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh năm 2023.

Trường đại học

Trường Đại Học Thăng Long

Chuyên ngành

Điều Dưỡng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2024

119
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm về Lo âu và Trầm cảm Trước Phẫu thuật

Lo âu và trầm cảm trước phẫu thuật là những rối loạn tâm lý phổ biến ở người bệnh khi sắp trải qua các can thiệp phẫu thuật. Đây là những phản ứng tâm lý tự nhiên nhưng cần được quan tâm và quản lý hiệu quả. Tình trạng lo âu biểu hiện qua sự bồn chồn, căng thẳng, lo lắng về kết quả phẫu thuật, trong khi trầm cảm liên quan đến cảm giác buồn, mất hy vọng và giảm hứng thú với cuộc sống. Các nghiên cứu cho thấy khoảng 50-80% người bệnh trước phẫu thuật gặp phải các triệu chứng lo âu ở mức độ khác nhau. Hiểu rõ về các triệu chứng này giúp nhân viên y tế, đặc biệt là điều dưỡng, có thể cung cấp hỗ trợ tâm lý phù hợp và cải thiện chất lượng chăm sóc trước mổ.

1.1. Định nghĩa Lo âu Trước Phẫu thuật

Lo âu trước phẫu thuật là trạng thái tâm lý không thoải mái, đặc trưng bởi sự lo lắng, bồn chồn và sợ hãi về những điều không mong muốn có thể xảy ra. Nó phản ánh mối quan tâm tự nhiên của con người đối với các rủi ro tiềm ẩn. Mức độ lo âu có thể dao động từ nhẹ đến nặng, ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ, khẩu vị ăn uống và sự tuân thủ hướng dẫn chuẩn bị phẫu thuật của người bệnh.

1.2. Định nghĩa Trầm cảm Trước Phẫu thuật

Trầm cảm trước phẫu thuật là tình trạng tâm trạng suy sụp, cảm giác vô vọng về tương lai sau phẫu thuật. Người bệnh có thể cảm thấy mất động lực, thiếu năng lượng và khó khăn trong việc tập trung. Trầm cảm có thể làm chậm quá trình phục hồi và ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả điều trị tổng thể của người bệnh sau mổ.

II. Các Yếu tố Liên quan Đến Lo âu và Trầm cảm

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Huyền tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh năm 2023 đã xác định nhiều yếu tố liên quan ảnh hưởng đến tình trạng tâm lý người bệnh trước phẫu thuật. Các yếu tố nhân khẩu học như tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn, tình trạng kinh tế và việc làm đều có mối liên hệ với mức độ lo âu và trầm cảm. Ngoài ra, các yếu tố liên quan đến bản chất của phẫu thuật như loại phẫu thuật, mức độ cấp bách, thời gian phẫu thuật cũng ảnh hưởng đáng kể. Tiền sử bệnh lý, kinh nghiệm phẫu thuật trước đây, và mức độ nhận thức về bệnh tật cũng là những yếu tố quan trọng cần xem xét.

2.1. Yếu tố Nhân khẩu học

Đặc điểm nhân khẩu học bao gồm tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn, tình trạng việc làm và điều kiện kinh tế. Người bệnh ở các độ tuổi khác nhau và với trình độ học vấn khác nhau thường có mức độ lo âu và trầm cảm không giống nhau. Những người có điều kiện kinh tế khó khăn có thể gặp lo âu cao hơn do lo lắng về chi phí điều trị và phục hồi.

2.2. Yếu tố Liên quan Đến Phẫu thuật

Loại phẫu thuật, mức độ cấp bách của phẫu thuật và thời gian thực hiện phẫu thuật là những yếu tố quan trọng. Phẫu thuật cấp cứu thường gây lo âu cao hơn do thời gian chuẩn bị ngắn. Các phẫu thuật xâm lấn nhiều hay có rủi ro cao cũng làm tăng mức độ trầm cảm và lo âu ở người bệnh.

III. Công cụ Đánh giá Lo âu và Trầm cảm

Để đánh giá chính xác tình trạng lo âu và trầm cảm của người bệnh trước phẫu thuật, các nhà nghiên cứu và chuyên gia y tế sử dụng nhiều công cụ đánh giá tiêu chuẩn. Trong luận văn của Nguyễn Thị Thu Huyền, thang điểm DASS 21 (Depression Anxiety Stress Scale) được sử dụng để đo lường mức độ lo âu, trầm cảm và stress một cách khoa học và có tính tin cậy cao. Thang điểm này gồm 21 câu hỏi, được chia thành ba nhóm với mỗi nhóm 7 câu đánh giá từng khía cạnh cụ thể. Công cụ này giúp nhân viên điều dưỡng xác định chính xác mức độ tình trạng tâm lý để có can thiệp phù hợp.

3.1. Thang Điểm DASS 21

Thang điểm DASS 21 là một công cụ đánh giá tâm lý đã được chuẩn hóa và sử dụng rộng rãi. Nó gồm 21 câu hỏi tự báo cáo, mỗi câu được đánh giá trên thang 0-3 điểm. Kết quả được phân loại thành các mức độ: bình thường, nhẹ, vừa, nặng và rất nặng cho cả ba nhóm lo âu, trầm cảm và stress.

3.2. Giá trị và Ứng dụng Thang Điểm

Sử dụng công cụ DASS 21 giúp chuẩn hóa quá trình đánh giá, cho phép so sánh kết quả giữa các cá nhân khác nhau. Điều này hỗ trợ nhân viên điều dưỡng trong việc phát hiện sớm những trường hợp lo âu hoặc trầm cảm nặng cần can thiệp tâm lý đặc biệt, từ đó cải thiện chất lượng chăm sóc trước mổ.

IV. Vai trò Điều dưỡng Trong Hỗ trợ Tâm lý Trước Phẫu thuật

Nhân viên điều dưỡng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc chuẩn bị tâm lý cho người bệnh trước phẫu thuật. Họ là những người tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân, hiểu rõ tâm lý và nhu cầu của họ, từ đó có thể cung cấp thông tin, hỗ trợ tâm lý và tạo môi trường yên tâm. Vai trò của điều dưỡng bao gồm đánh giá tình trạng lo âu và trầm cảm, cung cấp giáo dục sức khỏe về quá trình phẫu thuật, lắng nghe những quan tâm của bệnh nhân, và liên kết giữa bệnh nhân với các chuyên gia tâm lý khi cần thiết. Việc hỗ trợ hiệu quả từ điều dưỡng không chỉ giảm lo âu mà còn cải thiện kết quả phẫu thuật và tốc độ phục hồi sau mổ.

4.1. Đánh giá Tâm lý Người Bệnh

Điều dưỡng cần tiến hành đánh giá toàn diện tình trạng tâm lý của người bệnh sử dụng các công cụ đánh giá như DASS 21. Thông qua các cuộc trò chuyện, quan sát và công cụ đánh giá, điều dưỡng xác định mức độ lo âu và trầm cảm, từ đó lập kế hoạch can thiệp phù hợp cho từng người bệnh riêng lẻ.

4.2. Hỗ trợ Tâm lý và Giáo dục Sức khỏe

Cung cấp thông tin chính xác về quá trình phẫu thuật, những điều sẽ xảy ra trước, trong và sau mổ giúp giảm lo âu do nỗi sợ điều chưa biết. Lắng nghe tâm sự và thể hiện sự quan tâm chân thành tạo ra mối quan hệ tin tưởng, giúp người bệnh cảm thấy được hỗ trợ và an tâm trong giai đoạn nhạy cảm này trước phẫu thuật.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về phẫu thuật 1. Định nghĩa về phẫu thuật Phẫu thuật (PT) là một kỹ thuật y tế được thực hiện với mục đích để chẩn đoán bệnh, điều trị, chỉnh hình, ghép tạng, giảm đau,. được tiến hành phổ biến trong chăm sóc NB [3].

Phân loại mức độ phẫu thuật, thủ thuật Theo Thông tư 50/2014/ TT- BYT ngày 26/12/2014 của Bộ Y tế: (1). Phẫu thuật, thủ thuật loại đặc biệt a) Phẫu thuật, thủ thuật rất phức tạp về bệnh lý, rất nguy hiểm đến tính mạng người bệnh (NB), đòi hỏi người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, phần lớn được thực hiện ở các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến trung ương. b) Yêu cầu phải có phương tiện, dụng cụ, trang thiết bị y tế chuyên dụng. c) Yêu cầu có số người tham gia phẫu thuật, thủ thuật theo quy định tại Phụ lục số 1 ban hành kèm theo Thông tư này.

d) Thời gian thực hiện kỹ thuật trung bình từ 3 đến 4 giờ hoặc lâu hơn. Phẫu thuật, thủ thuật loại I a) Phẫu thuật, thủ thuật khá phức tạp về bệnh lý, nguy hiểm đến tính mạng người bệnh, đòi hỏi người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, phần lớn được thực hiện ở các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến trung ương và tuyến tỉnh. b) Yêu cầu phải có phương tiện, dụng cụ, trang thiết bị y tế chuyên dụng. c) Yêu cầu có số người tham gia phẫu thuật, thủ thuật theo quy định tại Phụ lục số 1 ban hành kèm theo Thông tư này.

d) Thời gian thực hiện kỹ thuật trung bình từ 2 đến 3 giờ hoặc lâu hơn. Phẫu thuật, thủ thuật loại II a) Những phẫu thuật, thủ thuật phần lớn được thực hiện ở các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến trung ương, tuyến tỉnh và một số cơ sở tuyến huyện, mức độ nguy hiểm đến tính mạng người bệnh ít hơn loại I. b) Yêu cầu phương tiện, dụng cụ, trang thiết bị y tế thông dụng. c) Yêu cầu có số người tham gia phẫu thuật, thủ thuật theo quy định tại Phụ lục số 1 ban hành kèm theo Thông tư này.

d) Thời gian thực hiện kỹ thuật trung bình từ 1 đến 3 giờ hoặc lâu hơn. Phẫu thuật, thủ thuật loại III a) Những phẫu thuật, thủ thuật phần lớn được thực hiện ở các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến huyện, mức độ nguy hiểm đến tính mạng người bệnh ít hơn loại II. b) Yêu cầu phương tiện, dụng cụ, trang thiết bị y tế thông dụng. c) Yêu cầu có số người tham gia phẫu thuật, thủ thuật theo quy định tại Phụ lục số 1 ban hành kèm theo Thông tư này.

d) Thời gian thực hiện kỹ thuật trung bình từ 1 đến 2 giờ hoặc lâu hơn. Phân loại theo mức độ cấp bách của phẫu thuật. a, Phẫu thuật chương trình Phẫu thuật chương trình ( mổ phiên) là những bệnh nếu chưa mổ ngay thì cũng chưa nguy hiểm đến tính mạng. Mổ chương trình được lên kế hoạch và chuẩn bị cẩn thận đầy đủ nhất nhằm đảm bảo an toàn và tốt nhất cho bệnh nhân.

Ví dụ: Sỏi thận, sỏi niệu quản, u xơ tử cung, bướu giáp, gãy xương đơn giản… Đối với các bệnh mổ chương trình thì sau khi đầy đủ các xét nghiệm để chẩn đoán nguyên nhân, các xét nghiệm tiền phẫu sẽ được hội chẩn toàn viện do lãnh đạo bệnh viện chủ trì và có sự tham gia của phẫu thuật viên (bác sĩ mổ), bác sĩ gây mê Thư viện ĐH Thăng Long 5 hồi sức, các bác sĩ khác như bác sĩ tim mạch, chẩn đoán hình ảnh…. Bước này gọi là duyệt mổ. Sau khi duyệt mổ sẽ được lên chương trình mổ. Nếu như bệnh nhân có bệnh kèm sẽ được điều chỉnh, có thể dùng thuốc trước mổ, thay thế thuốc đang dùng, truyền máu, điều chỉnh các rối loạn đông máu, tăng glucose máu… cho đến khi bác sĩ Gây mê hồi sức thấy đủ điều kiện an toàn cho bệnh nhân thì cuộc mổ mới được tiến hành.

b, Phẫu thuật cấp cứu Phẫu thuật cấp cứu ( mổ cấp cứu): Là những trường hợp phải mổ ngay khi bệnh xuất hiện, ở đây thời gian tính bằng phút, bằng giờ. Mổ là yếu tố quyết định trong điều trị hồi sức, vì nếu chậm trễ người bệnh sẽ tử vong( Ví dụ: Vỡ túi phình động mạch não, vết thương mạch máu lớn, vỡ gan, vỡ lách, ruột thừa viêm….) Mổ cấp cứu trì hoãn là những bệnh cấp cứu nhưng có sự chuẩn bị để bệnh nhân được mổ trong những điều kiện thuận lợi hơn như viêm túi mật, bán tắc ruột… 1. Thời kì mổ Thời kỳ mổ là thời kỳ được tính từ khi NB vào vào viện viện đến khi được mổ. Thời kỳ trước mổ chia làm 2 giai đoạn: - Giai đoạn chẩn đoán: chẩn đoán xác định bệnh, đánh giá chức năng của các cơ quan trong cơ thể và chỉ định mổ.

- Giai đoạn chuẩn bị trước mổ: Giai đoạn này có thể dài hoặc ngắn phụ thuộc vào mức độ phẫu thuật: mổ cấp cứu hoặc mổ phiên, vào tình trạng NB, mức độ và tính chất của cuộc PT ( đại phẫu, trung phẫu, tiểu phẫu). Khi đó quá trình chuẩn bị phải tiến hành nhanh chóng, mổ càng nhanh càng tốt vì tính mạng NB đang bị đe dọa. Với những bệnh lý ác tính thì việc chuẩn bị NB và thăm khám trước mổ cần phải khẩn trương hơn nữa [28]. 6 Nhiệm vụ chủ yếu của thời kỳ trước mổ là giảm tối đa các biến chứng nguy hiểm của cuộc mổ.

Chuẩn bị mổ một cách có hệ thống, đánh giá tình trạng NB để đề phòng các biến chứng trong và sau mổ. Vai trò của Điều dưỡng trong chuẩn bị trước mổ cho người bệnh phẫu thuật Điều dưỡng có vai trò rất quan trọng trong công tác chuẩn bị trước phẫu thuật. Chuẩn bị cuộc mổ luôn thực hiện một cách an toàn và hiệu quả để tránh tai biến cho người bệnh trong mổ, ngăn ngừa biến chứng sau mổ và giúp người bệnh hồi phục tốt. Vai trò của người điều dưỡng rất quan trọng trong việc sửa soạn người bệnh trước mổ.

Có rất nhiều yếu tố góp phần vào sự lo âu của NB sắp phải phẫu thuật, họ có nhiều những băn khoăn cần được giải đáp, đối tượng mà NB hay tìm đến và dễ tìm thấy nhất là điều dưỡng [2], [21]. – Cởi bỏ tư trang người bệnh: điều dưỡng nên gửi tư trang của người bệnh cho thân nhân và bàn giao cẩn thận vì những vật này vừa gây trở ngại đè cấn trong tư thế phẫu thuật, vừa gây nhiễm khuẩn vùng mổ. – Tháo răng giả là yêu cầu tuyệt đối vì răng giả gây trở ngại trong việc đặt nội khí quản, gãy hay sứt răng giả, dị vật đường thở nếu răng rớt vào khí quản. – Tóc dài thắt bím lại hay buộc tóc gọn gàng.

Tóc giả cần được lấy ra vì nó là nguyên nhân gây nhiễm trùng cho vùng mổ. – Móng tay sơn: chùi sạch móng tay, móng chân có sơn màu giúp quan sát, theo dõi màu sắc da niêm, móng chính xác. – Vệ sinh: nên cho người bệnh vệ sinh sạch sẽ chiều hôm trước mổ, vệ sinh vùng mổ và tắm rửa sạch vùng mổ tốt nhất với xà bông sát khuẩn, nhất là vùng mổ. Hiện nay, trong các tài liệu nước ngoài việc cạo lông hạn chế thực hiện, thay vào đó là việc làm vệ sinh với dung dịch savon sát khuẩn.

Nếu trong trường hợp cần cạo lông thì nên sử dụng dụng cụ cạo râu. Thư viện ĐH Thăng Long 7 – Ăn uống: chiều trước mổ ăn nhẹ loãng, tối trước mổ nhịn ăn hoàn toàn, thường nhịn ăn tối thiểu 8 giờ trước mổ, ngưng uống tối thiểu trước 4 giờ. Sáng hôm sau thực hiện truyền dịch cho người bệnh trước mổ. Trong trường hợp người bệnh gây tê thì không cần nhịn ăn uống tối trước mổ, chỉ nhịn ăn vào sáng trước mổ.

– Thụt tháo: cần làm sạch ruột tối hôm trước và sáng hôm mổ như uống thuốc xổ, bơm hậu môn bằng dung dịch tẩy xổ. Với mổ đại tràng, nguyên tắc là đảm bảo sạch phân đại tràng nên cần thực hiện thụt tháo cho người bệnh. – Tâm lý trước mổ: để tránh người bệnh lo âu, căng thẳng, điều dưỡng cho người bệnh gặp gỡ người nhà, khuyên người bệnh ngủ sớm, có thể thực hiện thuốc an thần cho người bệnh đêm trước mổ. Trước khi PT, nếu NB có các triệu chứng bất thường như: ho, sốt, tiêu chảy, đau bụng cồn cào, NB cần thông báo ngày cho bác sĩ hoặc điều dưỡng tại khoa để được thăm khám và chăm sóc kịp thời.

Bác sĩ sẽ quyết định hoãn thực hiện phẫu thuật cho đến khi tình trạng NB ổn định. Lo âu, trầm cảm nói chung. Khái niệm a, Lo âu ( Anxiety) Lo âu là hiện tượng phản ứng tự nhiên ( bình thường) của con người trước những khó khăn và các mối đe dọa của tự nhiên, xã hội mà con người phải tìm cách vượt qua, tồn tại, vươn tới. Lo âu là một tín hiệu báo động, báo trước mối nguy hiểm sắp xảy đến, cho phép con người sử dụng mọi biện pháp để đương đầu với sự đe dọa.

Lo âu quá mức hay dai dẳng không tương xứng với sự đe dọa được cảm thấy, ảnh hưởng đến hoạt động của người bệnh, có thể kèm theo những ý nghĩ hay hành động có vẻ quá mức hay vô lý đó gọi là lo âu bệnh lý [1]. Theo Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ, lo âu là một cảm xúc được đặc trưng bởi sự lo lắng và các triệu chứng căng thẳng sớm trong đó một cá nhân dự đoán được 8 nguy hiểm, thảm họa hoặc bất hạnh sắp xảy ra. Cơ thể thường tự vận động để đáp ứng các mối đe dọa được nhận thức: Cơ bắp trở nên căng thẳng, thở nhanh hơn và tim đập nhanh hơn. Lo lắng có thể được phân biệt với sợ hãi cả về mặt khái niệm và sinh lý, mặc dù hai thuật ngữ này thường được sử dụng thay thế cho nhau.

Lo lắng được coi là một phản ứng hướng tới tương lai, có tác dụng lâu dài, tập trung rộng rãi vào một mối đe dọa lan tỏa, trong khi nỗi sợ hãi là một phản ứng thích hợp, hướng đến hiện hiện tại và tồn tại trong thời thời gian ngắn đối với một mối đe dọa cụ thể và có thể xác định rõ ràng [31]. Biểu hiện lo âu: - Sợ hãi ( lo lắng về bất hạnh trong tương lai, cảm giác “dễ cáu”, khó tập trung…).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ