Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO LUẬT HÌNH SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự 1. Khái niệm và các đặc điểm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự 1. Khái niệm Cụm từ “ Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự” được hình thành từ 2 yếu tố chính là “Tình tiết” và “Giảm nhẹ trách nhiệm hình sự”.
Tình tiết: là những sự kiện, dữ liệu. tình huống, diễn biến, hành vi.của một người trong suốt quá trình thực hiện hành vi, sự việc mà kết quả dẫn đến trái với quy định của pháp luật [22, tr. Giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: là mức độ chịu trách nhiệm hình sự được giảm bớt so với quy định của pháp luật. Về khái niệm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự về quan niệm vấn đề này cũng có nhiều ý kiến khác nhau như: GS.TSKH Lê Văn Cảm quan điểm rằng “tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tình tiết được quy định trong Phần chung BLHS với tính chất là tình tiết giảm nhẹ chung hoặc là tình tiết do Tòa án tự phán xét, cân nhắc và ghi rõ trong bản án (nếu trong vụ án hình sự không có tình tiết này), đồng thời là một trong những căn cứ để cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền và Tòa án tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cá thể TNHS và hình phạt của người phạm tội theo hướng giảm nhẹ hơn trong phạm vi một khung hình phạt”.17] Hay theo quan điểm của TS.
Trần Thị Quang Vinh cho rằng “Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là những tình tiết của vụ án hình sự, liên quan đến việc giải quyết trách nhiệm hình sự, có ý nghĩa làm giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, phản ánh khả năng cải tạo tốt hoặc hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội đáng được khoan hồng và giá trị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của chúng chưa được ghi nhận trong chết tài”.45] 7 Quan điểm của người làm luật và các học giả về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là những tình tiết được quy định trong BLHS, bởi tính chất là tình tiết giảm nhẹ chung hoặc là tình tiết được ghi nhận trong văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hay do Tòa án tự xem xét, cân nhắc và ghi rõ trong bản án, đồng thời là một trong những căn cứ để Tòa án cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với người phạm tội. Qua đó, phản ánh mức độ ảnh hưởng đến quyết định xét xử và mức hình phạt của cơ quan tiến hành tố tụng, đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật hình sự. Là cơ sở để người phạm tội có thể chịu trách nhiệm hình sự ở mức thấp hơn so với quy định của pháp luật. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được sử dụng nhiều và có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình cơ quan tố tụng tiến hành xét xử, là căn cứ để đưa ra mức hình phạt của Tòa án.
Tuy nhiên, BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 không đưa ra khái niệm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Từ thực tế cho thấy dù BLHS đã có những điều chỉnh mới những quy định về Điều luật, nhưng bản chất, nội dung của tình tiết giảm nhẹ TNHS mới chỉ nêu đặc trưng pháp lý (Căn cứ tại Điều 46-Bộ luật Hình sự năm 1999, Điều 21- Bộ luật Hình sự năm 2015). Chưa thể hiện được cách nhìn khái quát về các tình tiết giảm nhẹ TNHS, cách nhận biết như: “Khái niệm tội phạm” tại Điều 8, “Khái niệm hình phạt” tại Điều 30 Bộ luật Hình sự năm 2015. Trên cơ sở tiếp thu từ các công trình nghiên cứu của những người đi trước, tác giả xin đưa ra khái niệm định nghĩa: Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là những tình tiết xảy ra trong vụ án hình sự.
Có ý nghĩa làm giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, phản ánh khả năng nhận thức của người có hành vi phạm tội trong quá trình diễn biến sự việc, ý thức ăn năn, hối cãi và muốn cải tạo của người phạm tội. Ngoài ra yếu tố hoàn cảnh, nguyên nhân tác động, nhân thân của người phạm tội cũng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Có giá trị làm cơ sở, xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho người phạm tội được pháp luật quy định cụ thể và công nhận. 8 Khái niệm về tình tiết giảm nhẹ TNHS giúp cho các cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực pháp luật và người dân có thể hiểu rõ hơn, sâu rộng hơn so với kiến thức phổ biến chung hiện nay.
Nhận thức rõ và rộng hơn về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ở góc độ bao quát hết tất cả các giá trị giảm nhẹ như: Không chỉ là yếu tố giảm nhẹ mức hình phạt mà còn có giá trị làm giảm nhẹ đối với những tác động trong hoạt động cưỡng chế hình sự. Trong quá trình xét xử, giá trị của các tình tiết giảm nhẹ TNHS có ý nghĩa quyết định đến mức độ phạm tội và hình thức xử phạt. Ý nghĩa chuyên sâu được thể hiện ở cơ chế giảm nhẹ TNHS dựa trên cơ sở xác định tiêu chí để xem xét một tình tiết có giá trị giảm nhẹ bằng việc phân loại và làm rõ ranh giới cửa các tình tiết giảm nhẹ TNHS với các tình tiết khác trong vụ án nhưng không được sử dụng trong giải quyết vụ án, với các tình tiết thuộc về dấu hiệu của cấu thành tội phạm (tình tiết định tội, định khung), với các tình tiết thuộc và không thuộc việc thực hiện tội phạm. Đặc điểm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Luật hình sự Việt Nam Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Luật hình sự Việt Nam năm 2015 được ghi nhận ở hai khía cạnh cụ thể là: Tình tiết trong quá trình thực hiện hoặc sau khi diễn ra sự việc, hành vi vi phạm pháp luật.
Hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân tác động, trình độ văn hóa. của người phạm tội. Tình tiết trong quá trình thực hiện hoặc sau khi diễn ra sự việc, hành vi vi phạm pháp luật được công nhận theo Luật hình sự Việt Nam: Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm; Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả; Người phậm tội tự thú; Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải; 9 Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện hoặc điều tra tội phạm; Người phạm tội đã lập công chuộc tội; Đặc điểm của các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong quá trình thực hiện hoặc sau khi diễn ra sự việc, hành vi vi phạm pháp luật: Các tình tiết giảm nhẹ TNHS trong quá trình thực hiện hoặc sau khi diễn ra sự việc là những yếu tố xuất hiện khi thực hiện hành vi phạm tội hoặc sau khi đã thực hiện hành vi phạm tội. Các tình tiết người phạm tội tự thú hay thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải thể hiện sự thay đổi tích cực trong suy nghĩ của chính họ.
Họ nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và làm thay đổi bản chất hành vi vi phạm sang một hướng khác để hậu quả xảy ra có tính chất nhẹ hơn, hay thành khẩn hợp tác, giúp đỡ, hỗ trợ các cơ qaun chức năng sớm hoàn tất việc giải quyết vụ án đúng với bản chất, diễn biến vụ việc. Qua những tình tiết này có thể thấy mức độ nguy hiểm cho xã hội của người phạm tội chuyển biến dần đáng được ghi nhận trong quá trình xét xử. Hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân tác động, trình độ văn hóa.(gọi tắt là nhân thân) của người phạm tội được xem là tình tiết giảm nhẹ TNHS được công nhận theo Luật hình sự Việt Nam: Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; Phạm tội trong trường hợp vướt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết; Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội; Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra; Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự tay gây ra; Phạm tội nhưng chưa gây ra thiệt hại hoặc gây ra thiệt hại không lớn; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức; Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra; 10 Phạm tội do lạc hâu; Người phạm tội là phụ nữ có thai; Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên; Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng; Người phạm tội là người có bệnh bị hanh chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình; Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác; Người phạm tội là Cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, người có công với cách mạng; Đặc điểm của các tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc về nhân thân người phạm tội như sau: Các tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc về nhân thân là những yếu tố có trước khi cá nhân có hành vi phạm tội bao gồm: trình độ văn hóa, phẩm chất, đạo đức, hoàn cảnh gia đình.và nguyên nhân tác động đến hành vi vi phạm phạm luật. Các tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc về nhân thân người phạm tội phải là những tình tiết thuộc về nhân thân của người phạm tội chứ không phải một ai khác.
Nhân thân của mỗi con người phản ánh chính con người đó, việc giảm nhẹ TNHS là dành cho chính bản thân họ. Vì vậy, để được coi là tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc về nhân thân người phạm tội thì tình tiết đó buộc phải là chính họ, như vậy mới bảo đảm được ý nghĩa giá trị việc giảm nhẹ. Các tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc về nhân thân người phạm tội là căn cứ để giảm nhẹ TNHS cho mỗi cá nhân phạm tội. Qua những tình tiết này có thể thấy, mức độ nguy hiểm cho xã hội của người phạm tội ít hơn những người không có các tình tiết đó.