CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tình thái ngôn ngữ 1. Các quan điểm về tình thái Tình thái, đúng như tên gọi, là một trong những vấn đề phức tạp và gây ra nhiều tranh cãi trong nghiên cứu ngôn ngữ vì khái niệm này liên quan đến nhiều yếu tố: người nói, người nghe, nội dung miêu tả trong phát ngôn, tính thực tế của phát ngôn. Panfilov đã nhận xét rằng: “không có phạm trù nào mà bản chất ngôn ngữ học và thành phần các ý nghĩa bộ phận lại gây ra nhiều ý kiến khác biệt và đối lập nhau như phạm trù tính tình thái”.
Perkins cũng cho rằng: “nghiên cứu tình thái thì giống như là cố di chuyển trong một căn phòng chật kín người sao cho không giẫm lên bước chân người khác”. Thực ra, vấn đề tình thái đã được các nhà lôgíc học quan tâm từ lâu. Sở dĩ như vậy vì lôgíc học quan tâm đến các bình diện của mệnh đề được biểu thị trong lời nói như tính có thật hay không có thật, tính tất yếu hay không tất yếu, tính khả năng có thể có được hay không có được. Tuy nhiên, tình thái trong lôgíc học là tình thái khách quan, nghĩa là gạt bỏ vai trò của người nói (như ý chí, sự đánh giá, mức độ cam kết, thái độ hay lập trường,…).
Trong khi đó, tình thái trong ngôn ngữ đề cao vai trò của người nói – tình thái chủ quan. Do đó, tình thái trong ngôn ngữ được tập trung nghiên cứu ở các khía cạnh: cách hiểu về tình thái, các kiểu loại tình thái và các phương tiện biểu thị tình thái. Nguyễn Văn Hiệp đã cho rằng, sự giới hạn cách hiểu về tình thái trong lôgíc học như vậy là cần thiết để lôgíc học không lấn sân sang địa hạt của các ngành khoa học khác, trong đó có ngành Ngôn ngữ học. 11 Theo cách tiếp cận truyền thống, các tác giả như: Jesperson, Von Wright, Rescher, Searle, Ch.Bally,… thường đối lập nghĩa tình thái với nội dung mệnh đề.Bally là người chủ trương phân biệt trong mệnh đề một phần là ngôn liệu (Dictum), tức là cái tập hợp gồm vị ngữ lôgíc và các tham tố của nó và một phần được gọi là tình thái (Modus) biểu hiện thái độ của người nói.
Ông khẳng định tình thái là linh hồn của câu, của văn bản và của cả hoạt động giao tiếp [8, tr. Theo đó, tình thái thể hiện những nhân tố như ý chí, thái độ, sự đánh giá của người nói đối với điều được nói ra. Nó cho biết sự tình nêu ra là khả năng hay đã là hiện thực, là khẳng định hay phủ định, là tích cực hay tiêu cực, có đáng mong đợi xảy ra hay không đáng mong đợi xảy ra,… Tương tự, Fillmore cũng phân biệt cấu trúc nghĩa của câu bao gồm hai thành phần là “mệnh đề” được hiểu như là tập hợp những quan hệ có tính phi thời (Tenseless) giữa các động từ và các danh từ, phân biệt với thành phần “tình thái” gồm các loại ý nghĩa có liên quan đến toàn bộ câu như: phủ định, thì, thức, thể. Quan niệm này được thể hiện trong công thức: S= M+ P (Trong đó: M là thành phần tình thái, P là thành phần mệnh đề) [12, tr.
Các cách hiểu tình thái như trên được cho là chưa bao quát hết phạm trù phức tạp như tình thái, vì thế các nhà nghiên cứu sau này đã cố gắng miêu tả tình thái theo một nghĩa rộng hơn. Đáng chú ý là Palmer [12, tr.88] đã dựa vào lý thuyết hành động ngôn từ (Theory of speech acts) - một lý thuyết của Austin để thảo luận những vấn đề về ý nghĩa tình thái. Ông thay sự đối lập giữa tình thái với nội dung mệnh đề bằng sự đối lập giữa hành động tại lời với hành động tạo lời. Trong hành động tạo lời chúng ta nói một điều gì đó, còn trong hành động tại lời chúng ta làm một cái gì đó, chẳng hạn như trả lời câu hỏi, thông báo một phán quyết, khuyến cáo hoặc hứa hẹn.
12 Trên quan điểm đó, Cao Xuân Hạo [11, tr. 322] đã phân biệt hai loại tình thái là tình thái của hành động phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn. Theo ông, tình thái của hành động phát ngôn có liên quan đến giá trị ngôn trung của câu nói, trong đó sự phân biệt giữa “trần thuật”, “hỏi” và “cầu khiến” thường được ngữ pháp hóa cho nên đã được ngữ pháp cổ điển chú ý từ lâu, còn tình thái của lời phát ngôn là tình thái có liên quan đến thái độ của người nói đối với điều mình nói ra (tình thái của câu) và sự tình do phần thuyết hạt nhân biểu thị (tình thái của lõi vị ngữ). Tình thái của lời phát ngôn lại được chia làm 2 loại là tình thái khách quan và tình thái chủ quan.
Nguyễn Văn Hiệp khi bàn về tình thái đã cho rằng phải qua những đối lập thì bức tranh tình thái mới hiện ra một cách rõ ràng, đúng bản chất nhất. Tán thành với quan điểm của Bybee, Nguyễn Văn Hiệp cho rằng: “tình thái là tất cả những gì mà người nói thực hiện cùng với toàn bộ nội dung mệnh đề”. Với cách hiểu này, chúng ta có thể đưa vào phạm vi tình thái một loạt những ý nghĩa rất khác nhau thuộc về lập trường của người nói (đánh giá về lượng, đánh giá về chủng loại, đánh giá về tính đáng mong muốn hay không đáng mong muốn của điều được nói đến,…), từ đó, chúng ta sẽ xác lập được một khung lý thuyết có hiệu lực để miêu tả những trợ từ, những tiểu từ tình thái, đặc biệt là khi chúng là những phương tiện cực kỳ quan trọng để biểu thị tình thái trong tiếng Việt. Có thể thấy các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã có những quan niệm rộng, hẹp khác nhau về tình thái.
Theo quan niệm hẹp, tình thái thường được cho là phần nghĩa phản ánh mối quan hệ, thái độ cũng như ý định của người nói đối với nội dung phát ngôn và quan hệ giữa nội dung phát ngôn đối với thực tế. Theo quan niệm rộng, tình thái là tất cả những gì mà người nói thực hiện cùng với toàn bộ nội dung mệnh đề. 13 Trong luận văn này, tình thái được hiểu theo quan niệm rộng của Bybee, Nguyễn Văn Hiệp, bao gồm các yếu tố: - Thái độ, tình cảm, cảm xúc của người nói đối với sự tình nói ra và đối với người nghe (vui mừng, hạnh phúc, sung sướng, hay lo lắng, hồi hộp, tức giận,…). - Sự đánh giá, lập trường của người nói đối với sự tình: người nói đánh giá nội dung thông báo về độ tin cậy, về tính hợp pháp của hành động, xem nó là điều tích cực (mong muốn) hay tiêu cực (không mong muốn); đánh giá về tính khả năng, tính hiện thực của điều được thông báo.
- Sự khẳng định hay phủ định đối với sự tồn tại của sự tình (sự tình có thật hay không có thật). - Phản ánh những đặc trưng khác nhau của phát ngôn và hành động phát ngôn có liên quan đến ngữ cảnh, xét theo quan điểm, đánh giá của người nói. Ví dụ sự đánh giá của người nói về mức độ hiểu biết của người nghe, sự đánh giá của người nói đối với các quan điểm, ý kiến khác,… - Các ý nghĩa thể hiện mục đích phát ngôn của người nói, hay nói theo lý thuyết hành động ngôn từ là thể hiện kiểu mục đích tại lời mà người nói thực hiện (xác nhận, bác bỏ, thề, hỏi, ra lệnh,…) xét ở bình diện liên nhân, thể hiện sự tác động qua lại giữa người nói và người nghe. Có thể minh họa cách hiểu ý nghĩa tình thái như trên qua những ví dụ sau: Nam đi Hà Nội hôm qua.
Nam đã đi Hà Nội hôm qua rồi. Có lẽ Nam đi Hà Nội hôm qua. Chắc chắc Nam đã đi Hà Nội hôm qua. Nam đi Hà Nội hôm qua đúng không? Hình như Nam đi Hà Nội hôm qua rồi.
14 Chúng ta còn có thể liệt kê thêm rất nhiều các câu khác nữa xoay quanh việc “Nam đi Hà Nội”. Như vậy với cùng một nội dung sự tình, chúng ta có thể tạo ra rất nhiều câu nói khác nhau, tuy nhiên mỗi một câu sẽ có mức độ hay xác suất hiện thực của nó (Nam đã đi Hà Nội hay chưa?), thái độ của người nói đối với nó (chắc chắn, nghi vấn, nửa tin nửa ngờ,…) là hoàn toàn khác nhau. Đó là lý do tình thái sẽ cho chúng ta biết sự tình nêu trong phát ngôn chỉ là khả năng hay đã là hiện thực rồi, là khẳng định hay phủ định, cho biết mức độ cam kết của người nói đối với độ xác thực của điều được nói đến, cho biết sự đánh giá của người nói đối với hành động được nêu ra, cho biết ý chí, mong muốn, mục đích của người nói khi phát ngôn là thế nào,… 1. Các kiểu loại tình thái Tình thái trong ngôn ngữ được biểu hiện phong phú và đa dạng qua nhiều cấp độ từ ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp cho đến phong cách; từ các thành tố thuộc bậc dưới câu, câu đến các thành tố thuộc bậc trên câu cho nên việc nhận diện, phân chia các kiểu loại tình thái là công việc, nhiệm vụ không hề dễ dàng.
Với quan điểm “tình thái là thông tin ngữ nghĩa của câu thể hiện thái độ hoặc ý kiến của người nói đối với điều được nói ra” [8, tr. 276], Palmer đã phân tình thái thành 2 loại là: Tình thái nhận thức và Tình thái trách nhiệm. Tình thái nhận thức (Epistemic modality) là tình thái được xây dựng dựa trên độ chân thực hay độ cam kết của người nói đối với tính chân thực của điều được nói ra. Tình thái này được chia thành 3 loại nhỏ: - Tình thái thực hữu (Factive): người nói cho rằng sự việc được nói đến là hiện thực hay tất yếu hiện thực.
Ví dụ như: Chắc chắn chiều nay mưa, Nam đã lấy vợ,… 15 - Tình thái phản thực hữu (Contre-factive): người nói cho rằng sự việc nói đến là phi hiện thực hay tất yếu phi hiện thực. Ví dụ: Mai có yêu Tuấn đâu; Tôi giấu anh việc đó làm gì,… - Tình thái không thực hữu: (Non-factive): người nói cho rằng, sự việc nói đến có thể được xảy ra. Ví dụ như: Buồng chuối này, bán chỉ được vài nghìn bạc là cùng,… Tình thái trách nhiệm (Deontic modality) là những tình thái thể hiện mức độ áp đặt của người nói về đạo đức, phong tục, tập quán lên người nghe. Về sau, tình thái này được gọi là tình thái đạo nghĩa.
Tình thái trách nhiệm được chia làm 4 nhóm: - Bắt buộc: Người nói có thể bắt buộc hoặc không bắt buộc người nghe thực hiện.