CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN Để nghiên cứu “Tính linh hoạt như một nét bản sắc văn hóa của âm nhạc truyền thống Việt Nam”, chúng tôi bắt đầu từ việc tìm hiểu những vấn đề có tính chất khái quát. Trước hết, tính linh hoạt được xem xét ở nguồn gốc hình thành của nó. Tiếp đến, bản sắc văn hóa, âm nhạc và âm nhạc truyền thống Việt Nam sẽ được trình bày qua một số nhận định, phân tích. Tất cả các nội dung trên sẽ góp phần tạo nên cơ sở lý luận cho đề tài.
Tính linh hoạt Khi nói về văn hóa Việt Nam, người ta thường nhắc đến tính linh hoạt như một trong những nét bản sắc tiêu biểu và có nguồn gốc từ văn hóa nông nghiệp. Đối với nhà nông, việc mùa màng bội thu, con người đông đúc đáp ứng được nhu cầu công việc là ước vọng lớn nhất trong cuộc sống của họ. Để mong ước này trở thành hiện thực thì hoa màu và con người phải sinh sôi nảy nở. Cây cỏ, hoa trái mọc lên từ đất, phát triển và lớn lên dưới ánh nắng mặt trời.
Còn con người được sinh ra và nuôi dưỡng bởi mẹ - cha. Người xưa đã đồng nhất đất với mẹ, trời với cha. Hợp nhất hai cặp “đất - trời” và “mẹ - cha”, triết lý âm dương hình thành ở bước khởi thủy. Bên cạnh đó, trong cuộc sống hằng ngày, đối diện với rất nhiều cặp đối lập cùng tồn tại như: ngày - đêm, sáng - tối, lạnh - nóng, tốt - xấu., con người phát hiện và hiểu rằng tất cả mọi sự vật, hiện tượng đều có tính hai mặt, đều mang thuộc tính âm - dương.
Âm - dương gắn bó mật thiết với nhau, chuyển hóa cho nhau, không có gì âm hoàn toàn hoặc dương hoàn toàn mà ngược lại, trong âm có dương, 12 trong dương có âm. Nhận thức được quy luật này nên người Việt đã chọn cho mình triết lý sống quân bình. Và cũng chính triết lý quân bình đó đã mang đến lối ứng xử linh hoạt trong mọi hoàn cảnh. Từ những phân tích trên, có thể thấy, cơ sở hình thành tính linh hoạt bắt nguồn từ triết lý quân bình âm dương.
Và tính linh hoạt của văn hóa nông nghiệp là khả năng thích nghi và ứng biến cao trong mọi hoàn cảnh. Bản sắc và bản sắc văn hóa Việt Nam 1. Bản sắc văn hóa Ngày nay, theo xu thế chung của thời đại, quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra một cách mạnh mẽ. Nguy cơ đứng trước sự hòa tan, đánh mất dần bản sắc văn hóa dân tộc đã trở thành mối lo ngại lớn đối với nhiều quốc gia trên thế giới.
Do vậy, hơn bao giờ hết, vấn đề bản sắc văn hóa rất được quan tâm. Vậy bản sắc văn hóa là gì? Câu hỏi này, cho đến nay, tuy đã có nhiều cách giải thích nhưng nhìn chung vẫn chưa có sự thống nhất. Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu về văn hóa cũng đưa ra khá nhiều định nghĩa từ các hướng tiếp cận khác nhau. Theo Minh Chi: Bản là “cái gốc, cái căn bản, cái lõi, cái hạt nhân của một sự vật, còn sắc là “hiển hiện ra ngoài”.
Bản sắc văn hóa là “những giá trị gốc”, “những giá trị tiêu biểu nhất” được “khẳng định trong quá trình lịch sử xây dựng, củng cố và phát triển của dân tộc Việt Nam”. Chúng biểu hiện ra trong mọi lĩnh vực và mang tính dân tộc sâu sắc [Lê Ngọc Trà 2001: 13]. Ngô Đức Thịnh xem “các giá trị đặc trưng bản chất của văn hóa dân tộc, hình thành, tồn tại và phát triển suốt quá trình lịch sử lâu dài của đất nước” là bản sắc văn hóa [ www. Cùng bàn về vấn đề trên, Lê Ngọc Trà cho rằng: “Cái tạo nên bản sắc riêng, nét đặc trưng riêng trong văn hóa của một dân tộc chính là toàn bộ những cái vốn có trong bản thân nó, những cái nằm trong bản chất tạo thành 13 cốt lõi, diện mạo của nó, những cái mà khi nhắc đến dân tộc ấy, nền văn hóa ấy, người ta không thể không nói tới” [Lê Ngọc Trà 2001: 4].
Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm trong bài giảng về Bản sắc văn hóa Việt Nam đã nhận định bản sắc văn hóa là một hệ thống giá trị tinh thần tồn tại tương đối lâu bền hơn cả trong truyền thống văn hóa dân tộc, tạo nên tính đặc thù, khu biệt dân tộc ấy với các dân tộc khác. Giữa bản sắc văn hóa và văn hóa có mối liên hệ với nhau. Bản sắc văn hóa gắn liền, là một thuộc tính và là phần chung nhất, khái quát nhất của văn hóa. Bản sắc văn hóa được xác định với ba cấp độ: khái quát, cụ thể và phái sinh.
Các cấp độ này tương ứng với: hệ thống các đặc trưng bản sắc (khái quát), hệ thống các đặc điểm cụ thể của các đặc trưng bản sắc (cụ thể) và hệ thống các hệ quả và hậu quả của các đặc trưng bản sắc (phái sinh). Có năm đặc trưng tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam, đó là: ưa hài hòa, thiên về âm tính, cộng đồng tình cảm, tổng hợp, và linh hoạt. Nhìn chung, đa số ý kiến của các học giả Việt Nam đều thống nhất khi bàn về khái niệm bản sắc văn hóa. Bản sắc văn hóa có thể được hình dung như là những giá trị mang tính đặc trưng, bản chất, bền vững, được hình thành, tồn tại và phát triển qua hàng nghìn năm lịch sử.
Những giá trị này giúp nhận diện, phân biệt giữa cộng đồng, dân tộc này với cộng đồng dân tộc khác. Nhờ bản sắc văn hóa mà mỗi quốc gia có thể tự nhận diện về chính mình, đồng thời khẳng định và xác lập vị thế trên trường quốc tế. Bản sắc văn hóa cho đến hiện tại vẫn còn là một khái niệm cần được tiếp tục tìm hiểu thêm bởi tính chất quan trọng của nó trong việc tìm ra những đặc trưng cơ bản của văn hóa Việt Nam khi đặt trong quan hệ giao lưu văn hóa với các quốc gia, các dân tộc khác trên thế giới. Bản sắc văn hóa Việt Nam từ cái nhìn loại hình Đã từ lâu, con người nhận ra các nền văn hóa trên thế giới vô cùng phong phú và đa dạng.
Sự phong phú, đa dạng đó được tạo nên bởi những tương đồng, khác biệt muôn màu muôn vẻ của các nền văn hóa. Để tìm hiểu về chúng, giới nghiên cứu đã nêu ra các lý thuyết như: thuyết khuếch tán văn hóa, thuyết vùng văn hóa và thuyết loại hình kinh tế - văn hóa. Mỗi thuyết đều có ưu, nhược điểm riêng của mình. Ở Việt Nam, từ cơ sở thuyết loại hình kinh tế - văn hóa, tác giả Trần Ngọc Thêm đã xây dựng một hướng tiếp cận tổng hợp, dựa vào các đặc trưng địa lý - khu vực và các đặc điểm mang tính lịch sử - kinh tế để từ đó xác định loại hình văn hóa.
Theo ông, trên thế giới, có hai loại hình văn hóa cơ bản là: văn hóa gốc nông nghiệp - trọng tĩnh, điển hình là các nền văn hóa phương Đông và văn hóa gốc du mục - trọng động, tiêu biểu cho các nền văn hóa phương Tây. Việt Nam thuộc Đông Nam Á - một trong những cái nôi đầu tiên xuất hiện loài người, với điều kiện tự nhiên: nắng nóng, mưa nhiều, sông ngòi dày đặc, cư dân sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước, do vậy, văn hóa Việt Nam thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp. Bản sắc văn hóa Việt Nam cũng chịu sự chi phối của loại hình này. Vì bản sắc văn hóa được xem là một tổng thể các giá trị đặc trưng, tồn tại theo suốt chiều dài lịch sử, gắn chặt với việc hình thành và phát triển của một cộng đồng, dân tộc.
Có thể nói, Việt Nam mang bản sắc văn hóa nông nghiệp, với những đặc trưng cơ bản như: lối tư duy tổng hợp, trọng tình, phong cách sống linh hoạt, thái độ mềm dẻo hiếu hòa trong đối phó, dung hợp trong tiếp nhận. Nó đối lập với phương Tây xuất phát từ loại hình văn hóa gốc du mục, vốn trọng sức mạnh, tư duy thì thiên về phân tích, phong cách sống nguyên tắc, độc tôn trong tiếp nhận còn trong đối phó lại cứng rắn, hiếu thắng. 15 Bảng so sánh các đặc trưng của hai loại hình văn hóa Tiêu chí Văn hóa trọng tĩnh Văn hóa trọng động (gốc (gốc nông nghiệp) du mục) Đặc Địa hình Đồng bằng (ẩm, Đồng cỏ (khô, cao) trưng thấp) gốc Nghề chính Trồng trọt Chăn nuôi Cách sống Định cư Du cư Ứng xử với môi Tôn trọng, sống hòa Coi thường, tham vọng trường tự nhiên hợp với thiên nhiên chế ngự thiên nhiên Lối nhận thức, tư duy Thiên về tổng hợp và Thiên về phân tích và siêu biện chứng (trọng hình, (trọng yếu tố), quan hệ), chủ quan, khách quan, lý tính và cảm tính và kinh thực nghiệm nghiệm Tổ Nguyên tắc Trọng tình, trọng Trọng sức mạnh, trọng chức tổ chức cộng đức, trọng văn, trọng tài, trọng võ, trọng nam cộng đồng nữ đồng Cách thức Linh hoạt và dân chủ, Nguyên tắc và quân chủ, tổchức cộng trọng cộng đồng trọng cá nhân đồng Ứng xử môi trường Dung hợp trong tiếp Độc tôn trong tiếp nhận, xã hội nhận, mềm dẻo, hiếu cứng rắn, hiếu thắng trong hòa trong đối phó đối phó. [Trần Ngọc Thêm 2004:48] 16 Từ góc nhìn loại hình văn hóa, bản sắc văn hóa Việt Nam và những đặc trưng cơ bản có thể được nhận diện.
Đây là một hướng tiếp cận khoa học đã phản ánh toàn cảnh nền văn hóa Việt với đầy đủ các tính chất, sắc thái đa dạng trong sự so sánh tương đồng, khác biệt với các nền văn hóa khác. Âm nhạc và âm nhạc truyền thống Việt Nam 1. Khái niệm Nhắc đến âm nhạc, chúng ta liên tưởng đến một loại hình nghệ thuật tương đối trừu tượng nhưng lại chứa đựng sự hấp dẫn lớn bởi nó có “sức truyền cảm rất mạnh, phản ánh bằng ngôn ngữ âm thanh tâm hồn con người mỗi thời đại” [Hà Huy Giáp 1972:12]. Có lẽ chính vì vậy mà âm nhạc luôn dành được nhiều sự quan tâm, ưu ái.
Cho đến ngày nay, các câu hỏi như: “âm nhạc là gì” hay “âm thanh như thế nào thì gọi là âm nhạc”… vẫn còn là chủ đề thú vị, thu hút sự tranh luận đối với cả giới chuyên môn lẫn những người yêu thích âm nhạc. Do đó, khái niệm âm nhạc mang tính chất mở và có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau. Từ điển Encyclopedia of Cultural Anthropology định nghĩa: “âm nhạc được tạo thành từ âm thanh lặp lại, kéo dài của giọng nói hoặc âm thanh phát ra từ các nhạc cụ. Âm nhạc là hoạt động thuộc về con người” [David Levinson: 821].