Chương I: MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Ván dán là một loại sản phẩm ván nhân tạo, nó được sản xuất từ năm 1905, mặc dù nguyên liệu để sản xuất ván dán là ván mỏng đã có từ thời cổ đại. Người Hy lạp đã dùng ván mỏng để trang trí đồ mộc nội thất từ năm 1500 trước công nguyên. Người Hy Lạp và người La Mã cổ cũng phát triển các phương pháp tạo ván mỏng.
Tuy nhiên, đến năm 1930, sản xuất ván dán mới trở thành nghành công nghiệp chính với sự ra đời của máy ép nhiệt và các loại keo tổng hợp ở Châu Âu( Nga, Đức) và ở Mỹ. Chiến tranh thế giới thứ 2 đã thúc đẩy sự phát triển của ván dán sử dụng ngoài trời dùng keo phenol. Loại ván dán này chủ yếu dùng cho máy bay quân sự thủy chiến loại nhỏ. Vào những năm 1970, công nghệ sane xuất ván dán từ gỗ lá kim có đường kính nhỏ đã phát riển ở nhiều nơi trên thế giới (Haygreen and Bowyer, 1989).
Ván dán là sản phẩm được tạo thành tư các lớp ván mỏng dán dính lại với nhau nhờ keo dán trong những điều kiện nhất định. Ngoài ra, các loại ván dán đặc biệt là vật liệu được tạo thành bằng cách dùng chất kết dính các thanh, tấm gỗ riêng rẽ với nhau gồm: Ván dán từ gỗ xẻ,ván dán từ gỗ bóc(veneer) và ván dán kết hợp giữa gỗ xẻ với ván bóc. Ván dán gồm 3 hoặc nhiều lớp ván mỏng dán vuông góc chiều thớ với nhau, bề dày của ván thường là 1,5; 2; 2,5; 3; 4; 5; 6; 7; 8; 9; 10; 13; 15; 18mm. Để sản xuất 1m3 ván dán cần 2,2m3 đến 3,0m3 gỗ tròn.
Công nghiệp ván dán là một nghành sản xuất quan trọng trong công nghiệp chế biến. Ván dán và các dạng sản phẩm từ ván dán được sủ dụng rộng rãi trong xây dựng, làm toa xe, tàu thuyền, sản xuất đồ mộc, bao bì và nhiều lĩnh vực khác. Công nghệ sản xuất ván dán phù hợp với điều kiện nước ta vì vốn đầu tư không quá lớn, nguồn lao động dồi dào, nguồn nguyên liệu lớn, đa dạng chủng loại gỗ rừng trồng. Đặc biệt là gỗ rừng trồng có kích thước đường kính nhỏ, phù hợp với tình hình gỗ rừng trồng trong nước hiện nay.
Ván dán có nhiều ưu điểm hơn so với gỗ sản xuất ra nó: kích thước lớn hơn, có thể thay đổi được tùy vào mục đích sản xuất; khả năng chống tách chẻ được nâng cao hơn; lực bám đinh tăng; tính chất đồng đều trên bề mặt rộng của ván; khả năng ổn định kích thước tốt hơn; có thể năng cao được khả năng chống mục, chống cháy, chống ẩm, và các điều kiện thời tiết khác. Với nhiều tính chất ưu việt của ván dán, thì công nghệ sản xuất, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của ván được nhiều nhà khoa học nghiên cứu nhằm nâng cao những ưu điểm của ván, năng suất, chất lượng ván trong quá trình sản xuất. Ván dán được sản xuất từ ván mỏng với yêu cầu khối lượng thể tích của gỗ từ 0,70-0,75 g/cm3, ván mỏng được tạo ra nhờ phương pháp lạng hoặc bóc, chiều dày từ 1 1-10mm. Ván mỏng được sấy đến độ ẩm từ 7-12%, tráng keo bề mặt, xếp ván mỏng được tráng keo phù hợp với kết cấu sản phẩm.
Sau đó, sản phẩm chuyển đến công đoạn ép sơ bộ, ép nhiệt tạo ra sản phẩm ván dán. Để hoàn thiện sản phẩm qua công đoạn chà nhám hai mặt, sau đó cắt cạnh theo kích thước đơn hàng, thường là 1220mmx2440mm. Sau đó được dán phủ hoặc sơn phủ tùy vào mục đích sử dụng. Ván dán được sử dụng rộng rãi trong sản xuất đồ gỗ, trong xây dựng như ván coffa, ván WB,WBP, sản xuất vỏ tàu xe, đồ nội thất trong toa tàu.
Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá được thực trạng sản xuất ván dán tại công ty TNHH Dịch vụ Tổng hợp Hoa Linh. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu Công nghệ sản xuất ván dán tại Công ty TNHH Dịch vụ Tổng hợp Hoa Linh trong thời gian: Từ tháng 02/2021-05/2021. Phạm vi nghiên cứu Quá trình sản xuất ván dán tại Công ty TNHH Dịch vụ Tổng hợp Hoa Linh trong thời gian từ tháng 02/2021 đến tháng 05/2021.
Nội dung nghiên cứu - Tìm hiểu về đặc điểm chung của công ty TNHH Dịch vụ Tổng hợp Hoa Linh - Khảo sát thực trạng sản xuất tại Công ty TNHH Dịch vụ Tổng hợp Hoa Linh - Phân tích đánh giá thực trạng sản xuất ván dán tại Công ty TNHH Dịch vụ Tổng hợp Hoa Linh - Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất, chất lượng sản phẩm 1. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp kế thừa: Thu thập, tổng hợp và phân tích, chọn lọc những tài liệu nghiên cứu về ván nhân tạo gỗ nói chung và ván dán nói riêng, các giáo trình của bộ môn khoa học gỗ, bộ môn công nghệ sản xuất ván nhân tạo để thực hiện việc nghiên cứu. - Phương pháp thực nghiệm: Tham gia sản xuất ở từng công đoạn trong quy trình sản xuất ván dán tại công ty TNHH Dịch vụ Tổng hợp Hoa Linh. - Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các chuyên gia, cán bộ có kinh nghiệm, tìm ra hướng khắc phục.
- Phương pháp khảo sát thực tế: Khảo sát thực tế tại Công ty TNHH Dịch vụ Tổng hợp Hoa Linh. 2 Chương II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Nguyên lý hình thành ván dán 2. Khái niệm ván dán Ván dán là loại ván nhân tạo được hình thành từ các lớp ván mỏng dán dính lại với nhau nhờ keo dán trong những điều kiện nhất định.
Ngoài ra, các loại ván dán đặc biệt là vật liệu được tạo thành bằng cách dùng chất kết dính các thanh, tấm gỗ riêng rẽ với nhau gồm: Ván dán từ gỗ xẻ; ván dán từ gỗ bóc (veneer) và ván dán kết hợp giữa gỗ xẻ với ván bóc. Ván dán gồm 3 hoặc nhiều lớp ván mỏng dán vuông góc chiều thớ với nhau, bề dày của ván thường là 1. Để sản xuất 1m3 ván dán cần 2. Công nghiệp ván dán là một ngành sản xuất quan trọng trong công nghiệp chế biến.
Ván dán và các dạng sản phẩm từ ván dán được sử dụng rộng rãi trong xây dựng, làm toa xe, tàu thuyền, sản xuất đồ mộc, bao bì và nhiều lĩnh vực khác. Ván dán để sản xuất đồ mộc cao cấp thường là loại ván dán nhiều lớp, bề mặt sản phẩm được phủ bởi ván lạng hoặc ván bóc có vân thớ đẹp, chất lượng cao. Sản xuất ván dán hiện đại tập trung theo hướng sử dụng các loại gỗ có đường kính nhỏ, ván mỏng được tạo ra từ máy bóc không có trấu kẹp gỗ, sản phẩm ván dán có kích thước chiều dài và chiều rộng lớn ( 2440x1220mm; 1830x1220mm,…) 2. Nguyên tắc hình thành ván dán Ván dán là sản phẩm thu được bằng cách dán các lớp ván mỏng lại với nhau nhờ chất kết dính trong điều kiện nhất định.
Ván mỏng được tạo ra nhờ phương pháp bóc hoặc phương pháp lạng. Chiều dày của ván mỏng từ 1-10mm. Ván dán được hình thành theo nguyên tắc sau: NT1: Số lớp ván mỏng trong một sản phẩm bao giờ cũng là số tấm, thông dụng nhất là 3,5 và 7 lớp, tương ứng gọi là ván dán 3 lớp, 5 lớp, 7 lớp… NT2: Các lớp ván mỏng đối xứng nhau qua đường trung tâm của ván phải có chiều dày, loại gỗ và các tính chất như nhau; NT3: Hai ván mỏng kế tiếp nhau có chiều thớ vuông góc với nhau; NT4: Chiều dày của ván mỏng tăng dần từ ngoài vào trong (lớp ván giữa bao giờ cũng có chiều dày lớn nhất). Nguyên tắc 1 (NT1): NT1: Số ván mỏng là số lẻ, trong quá trình ép nhiệt để sản xuất ván dán sẽ giảm được thời gian truyền nhiệt vào đến màng keo trong cùng (tăng năng suất máy ép) và tránh hiện tượng bị trượt ở màng keo lớp giữa khi ván chịu uốn.
Nguyên tắc 2 (NT2): NT2: Các lớp ván mỏng đối xứng mhau qua đường trung tâm: - Tính đối xứng thể hiện về chiều dày ván mỏng, loại gỗ, độ ẩm gỗ, chiều thớ… - Mục đích tạo ra sự cân bằng, bền vững, ổn định cho ván, hạn chế biến dạng sản phẩm. Nguyên tắc 3 (NT3): NT3: Hai ván mỏng kế tiếp nhau có chiều thớ vuông góc với nhau: - Tạo ra ra sản phẩm có tính chất cơ lý đồng đều theo chiều dài và chiều rộng của ván. - Hạn chế co rút theo phương tiếp tuyến của ván mỏng so với gỗ nguyên. - Ngoài ra, tính chất này còn giúp nâng cao khả năng bám đinh, chống tách chẻ của vật liệu ván dán.
- Về lý thuyết, tạo ra sản phẩm ván dán có chiều thớ của các lớp ván mỏng lệch nhau một góc α (150, 300 , 450 , 600 ) để tạo ra các sản phẩm có tính chất đồng đều theo mọi phương trên bề mặt mặt ngang của ván. Nguyên tắc 4 (NT4): NT4: Chiều dày lớp ván mỏng tăng từ ngoài vào trong: - Mục đích để giảm thời gian truyền nhiệt vào đến màng keo trong cùng. - Trong quá trình ép ván, lớp bề mặt thường bị co rút nhiều hơn lớp trong giúp tăng cường độ cho ván. - Ngoài ra, lớp ván mỏng phía bề mặt có chiều dày nhỏ hơn, giúp giảm nội ứng suất kéo nén trong chính tấm ván mỏng đó, hạn chế nứt bề mặt ván đặc biệt khi ván được sử dụng ngoài trời.
Các thông số công nghệ trong sản xuất ván dán 2. Yêu cầu nguyên liệu gỗ Yêu cầu chủ yếu đối với gỗ để sản xuất ván dán là: - Loại gỗ: Loại gỗ có công cắt gọt bé, độ dẻo dai cao, mềm, có khối lượng riêng 0,4-0,6g/cm3; tròn đều, thẳng (Độ cong ≤ 2%, thon, độ tròn đều ≥ 0,7, để đảm bảo tỷ lệ thành khí cao). Ở Châu Âu thường sử dụng gỗ Bạch dương, gỗ Thông. Ở Việt Nam thường dùng các loại gỗ Trám, Xoan, Vạng, Ràng ràng, Dầu, Vên vên, Lát,.để làm ván mỏng dán mặt và ván lạng cần chọn loại gỗ có vân thớ và màu sắc đẹp như: Trám hồng, Lát hoa, Vên vên , Sồi, Dẻ,.
- Về kích thước: Chiều dài của gỗ bóc tùy thuộc kích thước của sản phẩm và máy bóc thường có cấp chiều dài: 1,30; 1,60; 1,91; 2,23; 2,54 m, Liên bang Nga quy định đường kính gỗ tròn đối với gỗ lá rộng lớn hơn 16cm, đối với gỗ Thông lớn hơn 4 18cm, đường kính gỗ tròn càng lớn thì tỉ lệ lợi dụng gỗ bóc ván mỏng càng cao. Chất lượng nguyên liệu được quy định đối với từng loại gỗ. - Về mắt: Đường kính mắt không quá 3cm đối với gỗ lá rộng; Không quá 5cm đối với gỗ lá kim.