Đặt vấn đề. Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu. Phần III: Kết luận và kiến nghị. SVTH: Tạ Lê Công Thành 1 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Thanh Bình PHẦN I.
Lí do chọn đề tài. Cao su nói chung và cao su tự nhiên nói riêng là nguyên vật liệu có vai trò quan trọng hàng đầu được ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp cũng như đời sống hàng ngày của con người. Với các đặc tính riêng biệt, cao su được ứng dụng nhiều nhất trong các lĩnh vực sản xuất xăm lốp xe, sản phẩm chống mài mòn, vỏ dây điện, dụng cụ y tế… Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, nhu cầu về cao su cũng không ngừng tăng lên trong những năm qua. Sản xuất, chế biến mủ cao su đã trở thành ngành công nghiệp quan trọng không thể thiếu đối với sự phát triển của con người.
Mặc dù cây cao su mới được du nhập vào nước ta khoảng 100 năm nhưng ngành sản xuất cao su đã trở thành một ngành thế mạnh của đất nước. Với tỷ trọng 85-90% sản lượng được tiêu thụ tại thị trường thế giới, cao su tự nhiên đã trở thành một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Với kim ngạch xuất khẩu liên tục đạt trên 1 tỷ USD/năm từ năm 2006 đến năm 2013 lượng cao su xuất khẩu của Việt Nam trong năm đã đạt 1,1 triệu tấn với kim ngạch đạt 2,5 tỷ USD, Việt Nam đang nằm trong top 5 quốc gia có kim ngạch xuất khẩu cao su tự nhiên hàng đầu thế giới cùng với Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Ấn Độ và đứng trong nhóm 3 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu cao nhất trong nhóm hàng nông sản sau gạo và cà phê. Quảng Nam là một tỉnh nghèo của miền trung, đời sống nhân dân ở các huyện miền núi còn nhiều khó khăn, nền kinh tế còn phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp.
Nhận thấy được vấn đề đó, tỉnh Quảng Nam trong những năm qua đã chú trọng tới phát triển ngành nông nghiệp. Mặc dù nền nông nghiệp của tỉnh đã đạt được tốc độ phát triển cao nhưng cơ cấu ngành nông nghiệp chưa có sự phát triển mạnh, ngành nông nghiệp thuần túy luôn chiếm tỷ trọng cao. Thực hiện phát triển cao su tự nhiên ở tỉnh Quảng Nam đã góp phần thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp, đã giúp giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, định canh định cư đối với đồng bào vùng xâu vùng xa gặp khó khăn. Tuy nhiên trong những năm gần đây giá cả cao su trên thị trường thế giới biến động không ngừng, đã gây khó khăn cho việc sản xuất cũng như tiêu thụ mủ cao su SVTH: Tạ Lê Công Thành 2 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Thanh Bình trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
Do đó, việc nghiên cứu tình hình sản xuất kinh doanh mủ cao su đã trở thành đề tài cấp thiết của các nhà hoạch định chính sách nhằm đảm bảo ngành cao su phát triển bền vững. Trước tình hình thực tiễn trên, tôi đã chọn đề tài: “Thực trạng sản xuất kinh doanh mủ cao su của Công ty TNHH MTV cao su Quảng Nam” để làm khóa luận tốt nghiệp của mình. Mục đích nghiên cứu. - Hệ thống cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế.
- Phân tích thực trạng sản xuất kinh doanh mủ cao su của Công ty TNHH MTV cao su Quảng Nam qua 3 năm (2012-2014). - Đề ra một số giải pháp giúp đẩy nhanh quá trình sản xuất kinh doanh sản phẩm mẻ cao su của Công ty trong thời gian tới. Phƣơng pháp nghiên cứu. Để đạt được các mục tiêu đề ra, tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau đây: -Thu thập số liệu về các hoạt động sản xuất, tiêu thụ mủ cao su tại Công ty qua các 3 năm (2012-2014).
- Nghiên cứu và phân tích bằng những kiến thức đã học, dựa vào kết quả phân tích và đề ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh mủ cao su. - Phương pháp chỉ số để phân tích tình hình biến động của hoạt động sản xuất kinh doanh và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty qua 3 năm (2012-2014). - Phương pháp so sánh để đánh giá sự biến động của hoạt động sản xuất kinh doanh mủ cao su của Công ty. Giới hạn nghiên cứu.
-Giới hạn không gian nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu tại Công ty TNHH MTVcao su Quảng Nam. -Giới hạn về mặt thời gian: Đề tài nghiên cứu trong thời gian 3 năm (2012-2014). - Giới hạn nội dung nghiên cứu: + Phân tích tình hình sản xuất kinh doanh mủ cao su của Công ty TNHH MTV cao su Quảng Nam. + Phân tích biến động về khối lượng sản xuất cao su và doanh thu tiêu thụ mủ SVTH: Tạ Lê Công Thành 3 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Thanh Bình cao su, các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh sản phẩm, các nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu và lợi nhuận của Công ty + Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh mẻ cao su của Công ty trong thời gian tới.
SVTH: Tạ Lê Công Thành 4 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Thanh Bình PHẦN II. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG I. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Hiệu quả kinh tế 1.
khái niệm hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định”. Từ khái niệm khái quát này, có thể hình thành công thức biểu diễn khái quát phạm trù hiệu quả kinh tế như sau: H = K/C (1) Trong đó: - H là hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (quá trình kinh tế) nào đó. - K là kết quả thu được từ hiện tượng (quá trình) kinh tế đó - C là chi phí toàn bộ để đạt được kết quả đó. Và như thế cũng có thể khái niệm ngắn gọn: hiệu quả kinh tế phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế và được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Quan điểm này đã đánh giá được tốt nhất trình độ sử dụng các nguồn lực ở mọi điều kiện “động” của hoạt động kinh tế. Theo quan niệm như thế hoàn toàn có thể tính toán được hiệu quả kinh tế trong sự vận động và biến đổi không ngừng của các hoạt động kinh tế, không phụ thuộc vào quy mô và tốc độ biến động khác nhau của chúng. Từ định nghĩa về hiệu quả kinh tế như đã trình bày ở trên, chúng ta có thể hiểu hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và tiền vốn) nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã xác định. Bản chất của hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh Thực chất khái niệm hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng đã khẳng định bản chất của hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, thiết bị máy móc, nguyên SVTH: Tạ Lê Công Thành 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Thanh Bình nhiên vật liệu và tiền vốn) để đạt được mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp – mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng cần phân biệt ranh giới giữa hai khái niệm hiệu quả và kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh. Hiểu kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là những gì mà doanh nghiệp đạt được sau một quá trình sản xuất kinh doanh nhất định, kết quả cần đạt cũng là mục tiêu cần thiết của doanh nghiệp. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp có thể là những đại lượng cân đong đo đếm được như số sản phẩm tiêu thụ mỗi loại, doanh thu, lợi nhuận, thị phần,. và cũng có thể là các đại lượng chỉ phản ánh mặt chất lượng hoàn toàn có tính chất định tính như uy tín của doanh nghiệp, là chất lượng sản phẩm,.
Như thế, kết quả bao giờ cũng là mục tiêu của doanh nghiệp. Trong khi đó, công thức (1) lại cho thấy trong khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh người ta đã sử dụng cả hai chỉ tiêu là kết quả (đầu ra) và chi phí (các nguồn lực đầu vào) để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh. Trong lý thuyết và thực tế quản trị kinh doanh cả hai chỉ tiêu kết quả và chi phí đều có thể được xác định bằng đơn vị hiện vật và đơn vị giá trị. Tuy nhiên, sử dụng đơn vị hiện vật để xác định hiệu quả kinh tế sẽ vấp phải khó khăn là giữa “đầu vào” và “đầu ra” không có cùng một đơn vị đo lường còn việc sử dụng đơn vị giá trị luôn luôn đưa các đại lượng khác nhau về cùng một đơn vị đo lường – tiền tệ.
Vấn đề được đặt ra là: hiệu quả kinh tế nói dung và hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh nói riêng là mục tiêu hay phương tiện của kinh doanh? Trong thực tế, nhiều lúc người ta sử dụng các chỉ tiêu hiệu quả như mục tiêu cần đạt và trong nhiều trường hợp khác người ta lại sử dụng chúng như công cụ để nhận biết “khả năng” tiến tới mục tiêu cần đạt là kết quả. Phân biệt các loại hiệu quả Thực tế cho thấy các loại hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, xã hội. Ở chương này chúng ta chỉ giới hạn thuật ngữ hiệu quả ở giác độ kinh tế - xã hội. Xét trên phương diện này, có thể phân biệt giữa hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế xã hội.
Hiệu quả xã hội phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định.