MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong năm năm trở lại đây, với hàng loạt khó khăn của nền kinh tế như lạm phát cao (2007 - 2008), ảnh hưởng khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế thế giới (2009), đã có nhiều dự báo không sáng sủa về khu vực kinh tế tư nhân: hàng loạt doanh nghiệp sẽ phá sản, khối doanh nghiệp tư nhân mới hình thành có thể tan rã… nhưng thực tế chứng minh doanh nghiệp tư nhân có một sức sống rất dẻo dai, mãnh liệt. Theo bản báo cáo “đánh giá nhanh chất lượng của khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam qua quá trình mười năm thực hiện luật doanh nghiệp”của tổ công tác thi hành luật doanh nghiệp và đầu tư thì số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập hàng năm tăng nhanh. Tuy nhiên, số doanh nghiệp tồn tại được trên thực tế được ước tính xấp xỉ 50% và tỷ lệ này là thấp so với mức trung bình trên thế giới.
Tại hội nghị sơ kết thực hiện nghị quyết Trung ương 5 (khóa 5) về “tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân” diễn ra tại Hà Nội, ủy viên Bộ chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang đã đánh giá cao về sức tăng trưởng của khu vực kinh tế tư nhân: “Kinh tế tư nhân đã phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng. Đã thu hút được các nguồn lực vào sản xuất, kinh doanh tạo thêm việc làm, tăng thu cho ngân sách nhà nước, góp phần tích cực vào tăng trưởng nhanh của nền kinh tế” Không có nhiều doanh nghiệp tư nhân bị phá sản trong suy thoái như dự báo, trái lại, số lượng doanh nghiệp đăng ký, thành lập mới vẫn đạt mức tăng trưởng trung bình 22%/năm. Những con số do ông Ngô Văn Dụ, chánh văn phòng Trung ương Đảng nêu tóm tắt về tình hình phát triển khu vực kinh tế tư nhân trong bảy năm qua đã cho thấy những hiệu quả to lớn của khu vực này: nộp ngân sách tăng từ 6% 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năm 2002 lên trên 11% năm 2008; đóng góp 46,9% vào GDP cả nước, tạo việc làm cho trên 50% số lao động cả nước. Chỉ riêng 3 năm 2007 - 2009, số doanh nghiệp tư nhân thành lập mới tăng 1,5 lần về số lượng và gấp 5 lần về vốn đăng ký so với giai đoạn 2000 - 2005.
Tổng số vốn đăng ký giai đoạn 2000 - 2008 của khu vực kinh tế tư nhân là 2.110 ngàn tỷ đồng, lớn hơn cả tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng trong giai đoạn này. Một thống kê khác của bộ Kế hoạch và đầu tư cho thấy, trong tổng số 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam, số lượng doanh nghiệp tư nhân chiếm 24% năm 2008 và tăng rất nhanh lên 30% năm 2009. Trong điều kiện sản xuất, kinh doanh rất khó khăn trong 3 năm qua, và so với những lợi thế của khu vực kinh tế nhà nước thì sự tăng trưởng đó rất có ý nghĩa. Rõ ràng, trong điều kiện thuận lợi hơn, và nếu được đối xử công bằng hơn khu vực kinh tế tư nhân sẽ còn phát triển rất mạnh mẽ và đóng góp hơn rất nhiều vào sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước.
Chỉ nói về vấn đề giải quyết việc làm thôi, theo phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng, hiện nay đã có gần nửa triệu doanh nghiệp tư nhân và nếu đến năm 2015 tăng lên 1,2 triệu, mỗi doanh nghiệp chỉ cần tuyển dụng từ 12 đến 15 lao động thôi, thì đã tạo việc làm cho khoảng 15 triệu - 20 triệu lao động. Chỉ riêng con số này đã cho thấy tầm quan trọng lớn đến thế nào của khu vực kinh tế tư nhân. Với khu vực kinh tế ngoài như nước hầu như không có hội nghị, hội thảo nào để lắng nghe và giải quyết vướng mắc cho các doanh nghiệp khu vực này. Chính vì vậy rất cần những nghiên cứu mang tính khoa học về tính cộng đồng của doanh nhân, đặc biệt là doanh nhân trẻ tại Hà Nội trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế hiện nay.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đối tƣợng, khách thể nghiên cứu 2. Đối tượng nghiên cứu: Tính cộng đồng của doanh nhân thể hiện qua nhận thức, xúc cảm và hành động của họ. Khách thể nghiên cứu: 100 doanh nhân trẻ trong các doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa tại Hà Nội và chuyên gia kinh tế, lãnh đạo Hội doanh nghiệp trẻ Hà Nội.
Giới hạn phạm vi nghiên cứu - Giới hạn nội dung: khảo sát thực trạng, biểu hiện tính cộng đồng của doanh nhân trẻ thông qua thông qua nhận thức, xúc cảm, tình cảm và hành động của doanh nhân. - Giới hạn địa bàn nghiên cứu: nghiên cứu được thực hiện với doanh nhân trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa có độ tuổi từ 18 đến 45 tuổi tại Hà Nội. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu lý luận, thực trạng tính cộng đồng của doanh nhân trẻ Hà Nội, các yếu tố ảnh hưởng đến tính cộng đồng này. Từ đó, đề xuất các biện pháp tâm lý - xã hội nhằm nâng cao tính cộng đồng của doanh nhân trẻ Hà Nội hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu một số vấn đề về lý luận về tính cộng đồng của doanh nhân trẻ Hà Nội. Các yếu tố ảnh hưởng đến tính cộng đồng này. - Khảo sát thực trạng tính cộng đồng trong doanh nhân trẻ Hà Nội. - Đề xuất biện pháp tâm lý - xã hội nhằm nâng cao tính cộng đồng của doanh nhân trẻ tại Hà Nội.
Giả thuyết khoa học Tính cộng đồng của doanh nhân trẻ Hà Nội hiện nay khá thấp. Tính cộng đồng này phụ thuộc vào các yếu tố chủ quan và các yếu tố khách quan, trong 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đó yếu tố chủ quan (như là: phẩm chất con người trong môi trường kinh doanh: năng lực, tư duy, sự kiên trì, khả năng sáng tạo, thông minh, sắc sảo…; doanh nhân được đào tạo bài bản về kinh doanh: kỹ năng đàm phán - thuyết phục, quản lý nhân sự, quản lý tài chính, kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng bán hàng…) là quan trọng nhất. Nguyên nhân là do phần lớn các doanh nhân trẻ Hà Nội đều xuất thân từ nông dân, mang nặng tâm lý tiểu nông, tư duy manh mún, cục bộ, ảnh hưởng rất nhiều đến tính cộng đồng của họ. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản.
- Phương pháp chuyên gia. - Phương pháp điều tra viết bằng bảng hỏi. - Phương pháp phỏng vấn sâu. - Phương pháp quan sát.
- Phương pháp phân tích chân dung tâm lý - Phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu bằng thống kê toán học. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍNH CỘNG ĐỒNG CỦA DOANH NHÂN TRẺ TẠI HÀ NỘI 1. Tổng quan nghiên cứu tính cộng đồng của doanh nhân 1. Một số nghiên cứu tính cộng đồng của các nhà tâm lý học ngoài nước 1.
Nghiên cứu tính cộng đồng của các nhà tâm lý học phương Tây G.Hofstede (1980) (người Hà Lan) trong nghiên cứu tới hơn một trăm nghìn nhân viên của hàng IBM ở 66 quốc gia, đã phát hiện ra bốn khía cạnh của các biến thể văn hóa: khoảng cách quyền lực, né tránh bất định, tính cá nhân và nam tính. Dựa vào kết quả nghiên cứu, tác giả lập một “bản đồ” có hai cực đối nhau về tính cộng đồng và tính cá nhân. Cách tiếp cận này của Hofstede thể hiện lối tư duy phương Tây và tỏ ra hạn chế, giản lược, xem cộng đồng/cá nhân như một khía cạnh mang tính đối lập. Theo ông, các xã hội theo xu hướng cộng đồng nhấn mạnh ý thức về cái “chúng ta”, sự đồng nhất tập thể, cộng đồng, sự phụ thuộc về mặt cảm xúc, đoàn kết trong nhóm, chia sẻ, trách nhiệm và bổn phận, nhu cầu về tình bạn ổn dịnh, quyết định nhóm và có tính đặc thù.
Schwartz cho rằng trong những điều kiện nhất định thì tính cộng đồng thể hiện qua các mối quan hệ là rất quan trọng (như trong gia đình), còn trên thương trường chẳng hạn, thì các nguyên tắc theo xu hướng cá nhân có thể được chấp nhận. Nghiên cứu của W.Nishida (1987) cho thấy rằng những người theo xu hướng cộng đồng chú ý nhiều hơn tới sự khác biệt giữa nhóm nội và nhóm ngoại. Một số tác giả khác cũng tranh luận rằng những người theo xu hướng cộng đồng thường hay hợp tác và giúp đỡ thành viên của nhóm nội hơn nhưng lại thường hay cạnh tranh và ít giúp đỡ thành viên nhóm ngoại. Tầm quan trọng của sự hài hòa trong nhóm nội đối với 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những người theo xu hướng cộng đồng đã được chứng minh.
Nghiên cứu tính cộng đồng của các nhà tâm lý học Xô Viết Tâm lý học Xô Viết thường đề cập đến tính cộng đồng trong khuôn khổ các nghiên cứu về lối sống.Sorokhova (1987) trong bài “Lối sống xã hội chủ nghĩa và tâm lý học về con người”. Các nghiên cứu này đã nêu ra những đặc điểm con người theo lối sống xã hội chủ nghĩa bao gồm: phục vụ xã hội; phát triển toàn diện năng lực; trách nhiệm với xã hội; tương trợ lẫn nhau; tính nhân văn đích thực trong tất cả các mối liên hệ xã hội. Lối sống xã hội chủ nghĩa mà Sorokhova nói tới là lối sống dựa trên nền tảng của chủ nghĩa tập thể, định hướng tập thể trong đó con người hành động vì lợi ích của tập thể, cộng đồng. Đối với các nhà xã hội học và tâm lý học Xô Viết thì yếu tố cơ bản quyết định về chất của lối sống là mối liên hệ và tương tác lẫn nhau giữa tính tập thể và tính cá nhân.
Khi bàn về nhân cách và lối sống, Sorokhova cho rằng tính tập thể, cộng đồng là một đặc trưng tâm lý xã hội cơ bản của con người Xô Viết. Mối quan hệ của con người với thế giới bên ngoài, với những người khác và với chính bản thân mình đều được phản ánh trong đó. Sự xuất hiện mang xu hướng cộng đồng này là kết quả của một cuộc đấu tranh để thay thế cái cũ vốn được hình thành qua nhiều thế kỷ. Biểu hiện của lối sống mang định hướng cộng đồng ở Liên Xô, thời kỳ những năm 1960, 1970 của thế kỷ trước là quan hệ hợp tác, tương trợ lẫn nhau giữa những người nông dân.
Kể từ khi Liên Xô sụp đổ, nước Nga đã có nhiều thay đổi mang tính chất bước ngoặt.