Chương I có ghi: “Chính phủ đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân. Không ai được xâm phạm đến quyền tự do ấy. Mọi người Việt Nam đều có quyền tự do theo một tôn giáo hoặc không theo một tôn giáo nào. Như vậy, ở đây tín ngưỡng cũng có nghĩa là tôn giáo.
Sau này, thuật ngữ tín ngưỡng, tôn giáo được đề cập đến trong các văn bản pháp quy mới (với cách viết là để liền hai cụm từ, hoặc tách rời nhau bang dấu phẩy): “Công dân Việt Nam có quyên tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Và hiện nay, khái niệm về Tin ngưỡng đã được luật hoá tại văn bản quy phạm pháp lý lập pháp cao nhất của nước ta, đó là Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Cu thể, Tin ngưỡng được định nghĩa “là niềm tin của con người được thé hiện thông qua những lễ nghi gan liền với phong tục, tập quán truyền thống mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng”. “Hoạt động tín ngưỡng” là hoạt động thờ cúng tô tiên; các biểu tượng linh thiêng, tưởng niệm và tôn vinh những người có công với đất nước, với cộng đồng: các lễ nghi dân gian tiêu biểu cho những giá tri lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội.
“LỄ hội tín ngưỡng ” là hoạt động tín ngưỡng tập thé được tô chức theo lễ nghi truyền thống nhăm đáp ứng nhu cầu tinh thần của cộng đồng. “Cơ sở tín ngưỡng” là nơi thực hiện hoạt động tín ngưỡng của cộng đồng như đình, đền, miéu, nhà thờ dòng họ và những cơ sở tương tự khác. (khoản 1,2,3,4 Điều 2, Luật Tin ngưỡng, tôn giáo 2016) I1 Trong nội dung nghiên cứu của đề tài Luận văn này, chúng tôi sẽ bám sát nội hàm khái niệm Tin ngưỡng theo định nghĩa trên, đảm bảo đúng quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo. * Khái niệm: Thờ Khái niệm Tho có thé được hiểu theo hai nghĩa: thứ nhất đó là sự tôn thờ, sùng bái một đối tượng có thé là trời, thần, thánh,.
Thứ hai, Tho trong hoạt động /hở cúng. Do là việc thực hiện một loạt các động tác (khẩn, vai, quy, lay) dưới dạng hành lễ. Thờ được hiểu ở đây (trong Luận văn) là thờ cúng nên nó là những hành động của con người dùng lễ vật phối hợp với các động tác mang tính thành kính biểu hiện sự cung kính của mình với Dang Bề Trên nhằm lấy long Dang Bè Trên, mong Dang Bè Trên ban ân huệ dé thỏa mãn về tinh than. + Thờ: Được hiểu là hành động biểu hiện sự sung kính một đắng siêu nhiên như thần thánh,.
Đồng thời thờ cũng được hiểu là một cách cư xử với bề trên cho phải đạo: như thờ cha mẹ, thờ thầy. ` + Cúng: Nghĩa là dâng lễ vật cho các đắng siêu nhiên, cho người đã khuất hay cho bản thân lễ vật đó. Cúng cũng có thé có ý nghĩa phi tôn giáo nhưng thờ cúng là thuật ngữ chỉ dùng riêng cho tôn giáo. * Khái niệm Thăng Long: Thăng Long là tên gọi trước kia của thủ đô Hà Nội là sự gắn liền với việc doi đô của vua Ly Thai Tổ vào năm 1010, mà theo Đại Việt sử ký toàn thư có chép: “Mùa thu, tháng 7, vua từ thành Hoa Lư dời đô ra Kinh phủ ở thành Đại La, tạm đỗ thuyền dưới thành, có rồng vàng hiện lên ở thuyền ngự, nhân đó đổi tên thành Thăng Long.
Đổi châu Cổ Pháp gọi là phủ Thiên Đức, thành Hoa Lư gọi là phủ Trường Yên, sông Bắc Giang gọi là sông Thiên Đức. Xuống chiếu phát tiền kho 2 vạn quan thuê thợ làm chùa ở phủ Thiên Đức, tất cả 8 sở, đều dựng bia ghi công. Từ khi hình thành tên gọi 12 Thăng Long như vậy thì trải qua các thời kỳ khác nhau, Thăng Long cũng lại có nhiều tên gọi khác nữa. Tuy nhiên, đến năm Minh Mạng thứ 12 vào năm 1831 thì có một tỉnh được thành lập ở Bắc Thành có tên gọi là tỉnh Hà Nội (38] A).
Và Hà Nội nếu hiểu theo nghĩa Hán thì chính là sự bao quanh bởi các con sông. Do vậy, tên gọi Hà Nội đã phan ánh vị tri địa lý của tỉnh Hà Nội. Trong Sách Lịch sử thủ đô Hà Nội có chép: "Năm 1831, vua Minh Mạng đem kinh thành Thăng Long cũ hợp với mây phủ huyện xung quanh như huyện Từ Liêm, phủ ứng Hoà, phủ Lý Nhân và phủ Thường Tín lập thành tỉnh Hà Nội, lay khu vực kinh thành Thang Long cũ làm tỉnh ly của Hà Nội". *Khái niệm Tứ tran Thăng Long: + Trước hết về khái niệm “Tứ tran” POSE: thuật ngữ được đề cập đến trong tập sách chữ Hán viết tay Hà thành linh tích cổ lục (thời Nguyễn) sử dụng chỉ bốn ngôi đền ở bốn phương vị của thành Hà Nội khi đó: Đông tran Bạch Mã đại vương từ; Tây tran Linh Lang đại vương từ; Nam tran Kim Liên Cao Sơn đại vương từ; Bắc tran Tay Hồ Chan Vũ quan.
+ Trong tập sách Thăng Long cé tích khảo tịnh hội đồ của tác giả Đặng Xuân Khanh (1956), tác giả đã nhắc đến Thăng Long Tứ Trấn qua dòng chữ: “Thăng Long Tứ tran. Đông tran Hàng Buồm Bach Mã đại vương từ, Tây tran Thủ Lệ ling Lang đại vương từ, Nam trấn Kim Liên Cao Sơn đại vương từ. Bắc trấn Tây Hồ trấn Vũ đại đề từ”. + Năm 1975, tác giả Trần Quốc Vượng đã nhắc đến “Thăng Long Tứ tran” trong cuốn sách Ha Mội nghìn xưa, khi viết về Thăng Long thời Ly, theo ông “phía Đông là đền Bạch Mã, phía Tây là đền Voi Phục, phía Bắc là đền Trấn Võ, phía Nam là đền Cao Sơn.
Đó là “Thăng Long Tứ trấn trong quan niệm cô truyền” Nhu vậy, có thé hiểu 7 tran Thăng Long gan liền với bỗn cơ sở thờ tự. 13 Đó là bốn ngôi đền thiêng nằm ở bốn phương của Kinh thành Thăng Long. Theo quan niệm của người Đại Việt xưa, do trời đất có bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc thì Thăng Long có “Tứ trấn”, được trụ bằng bốn ngôi đền, quán. Trong mỗi ngôi có một vị thần ngự, đã từ bao đời ngày đêm canh giữ cho kinh thành Thăng Long xưa cho đến Đông Đô rồi Hà Nội hôm nay.
Gan đây, năm 2001, trong bai viết “Đôi điều về quy hoạch thành Thăng Long” tại Hội thảo khoa học quốc tế: “Phát triển bền vững Thủ đô Hà Nội văn hiến, anh hùng, vì hoa bình” tác gia Trần Quốc Vượng cho rằng “Đất kinh thành thời xưa được gọi là dat thiêng, không gian thiêng. Do là tính cách tôn giáo trong việc xây dựng đô thành. Vì thế mà có “Tứ tran” với 4 đền Long Đỗ - Bạch Mã (Đông), Linh Lang — Voi Phuc (Tây). Tran Vũ - Bắc Dé (Bắc), Cao Son- Quý Minh (Nam - ở Kim Liên).
“Tứ tran” này dai thé đều nằm trên “vòng thiêng” thành Đại La hay “Thăng Long ngoại thành” Vào dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long — Hà Nội, quan niệm Thăng Long có Tứ tran kết hợp với Hoàng Thành tạo thành một không gian thiêng, tran yém giúp bảo vệ cho kinh đô Thăng Long trường tồn dường như đã tồn tại. Chương trình triển khai tu bố tôn tạo các ngôi đền, di tích lịch sử được thực hiện, trong đó có nội dung : “Hoàn thành tôn tạo Tứ trấn”. Mới nhất hiện nay là tại Quyết định số 93/QD-TTg ngày 18/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ về việc xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt, thì cụm từ “Thăng Long tứ tran” đã chính thức được công nhận về mặt pháp lý khi “hiện diện” trong “BANG XEP HẠNG DI TÍCH QUOC GIA ĐẶC BIỆT” do Thủ tướng Chính phủ ký ngày 18/01/2022, trong đó ghi rất cụ thể “Thăng Long tứ tran” gom: dén Bach Ma (quan Hoan Kiém), dén Voi Phuc, dén Quan Thánh (quận Ba Dinh), đền Kim Liên (quận Đống Da), TP. Tuy nhiên, trong Luận văn chúng tôi không dùng cụm từ “Thăng Long Tứ Trân” mà dùng cụm từ “Tứ trân Thăng Long”, vì chúng tôi muôn nhân mạnh 14 và làm rõ một hình thức tín ngưỡng dân gian của người Hà Nội thờ các vị thần linh thiêng, đầy quyền uy canh giữ cho Kinh thành từ Thăng Long xưa, đến Đông Đô va Hà Nội hiện thời trong các Đền (Tran) mà ở đây là Tứ Tran - 4 Đền của Đông Đô - Đông Kinh - Hà Nội: 1) Đền Bạch Mã ở Hàng Buôm - điểm gốc có từ thé kỷ 8 đến thế kỷ 9.
Tran phương Đông. 2) Đền Linh Lang ở Thủ Lệ - điểm gốc có từ thời Lý. Trấn phương Tây. 3) Đền Quán Thánh (Chân Vũ Quán) ở cạnh Hồ Tây.
Tran phương Bắc. 4) Đền (Dinh) Cao Sơn ở Kim Liên và dọc dải từ Ô chợ Dừa cho đến Ô Cầu Dén, có từ thời đầu Lê. Tran phương Nam. Đồng thời cũng khảo cứu các vị thần ở các đền này đã có sự tác động, ảnh hưởng như thế nào đến đời sống tinh thần người dân Hà Nội.
Nên xuyên suốt Luận văn sẽ sử dụng cum từ “Tứ tran Thăng Long”. * Khái niệm tín ngưỡng thờ Tứ tran Thăng Long - Khái niệm "Thăng Long Tứ Tran" được biết đến vào năm 1956 trong tập sách "Thăng Long cô tích khảo tịnh hội đồ" của tác giả Đặng Xuân Khanh. Đây là một cuốn sách viết tương đối đầy đủ về "Thăng Long Tứ trấn", nên khi nói về tín ngưỡng ở Hà Nội thì người dân Việt Nam nói chung, người Hà Nội nói riêng đều biết đến "Tứ Trấn Hà Nội", đó là: Đông Trấn, Bạch Mã Tối Linh từ (đền Bach Mã); Tây Tran, Linh Lang Dai Vương từ (đền Voi Phục); Nam Trấn, Kim Liên từ (đền Kim Liên); Bắc Trấn, Trấn Vũ Đại Đề từ (đền Quán Thánh). - Từ các khái niệm trên, chúng tôi hiểu khái niệm “Tín ngưỡng thờ Tứ trấn Thăng Long” là quan niệm lâu đời của người Việt nói chung, người Hà Nội nói riêng về sự sùng bái bốn vị thần (Thần Long Đỗ, thần Linh Lang Đại Vương, Thần Cao Sơn Đại Vương, Thần Huyền Thiên Trấn Vũ) tại bốn ngôi đền thiêng của Tứ trấn Thăng Long (đền Bạch Mã, đền Voi Phục, đền Kim Liên, đền Quán Thánh).
Bốn vị thần này từ bao đời đã và đang trấn giữ bốn vị 15 trí huyết mạch: Đông, Tây, Nam, Bắc của kinh thành Thăng Long xưa, nay là thủ đô Hà Nội luôn được bình yên. *Khai niệm Người dan Ha Nội Trong Luận văn, khái niệm người dân Hà Nội được hiểu là những người dang sinh sống và làm việc tại Hà Nội bất kể nguồn gốc họ được sinh ra từ đâu và thuộc tộc người (dân tộc) nào, chăng hạn Kinh, Dao, Tày, Mường hay Nung.