Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái niệm tín ngưỡng và tín ngưỡng thờ cây thiêng 1. Khái niệm tín ngưỡng Tín ngưỡng là một thuật ngữ được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm.
Tùy từng quan điểm, góc nhìn và cách tiếp cận của từng học giả, khái niệm tín ngưỡng được hiểu theo những cách khác nhau. Nhà nghiên cứu Đào Duy Anh khi nghiên cứu về tín ngưỡng và tế tự của tổ tiên người Việt đã cho rằng: “ở đời thượng cổ tín ngưỡng một thứ tự nhiên đa thần giáo, tin rằng phàm các hiện tượng và thế lực tự nhiên ở trong vũ trụ, như trời đất, mưa gió, núi sông, đều có thần linh chủ trương. Có lẽ người ta tưởng rằng linh hồn người chết thường đi lại với người sống, nếu có cúng quảy thì vong hồn phù hộ, nếu không thì vong hồn làm cho đau ốm. Như vậy, theo Đào Duy Anh, tín ngưỡng bao gồm niềm tin của con người vào các hiện tượng tự nhiên và vào các “linh hồn”, thông qua các lễ nghi để làm vừa lòng các thế lực này.
Nhà nghiên cứu Toan Ánh khi nói về tín ngưỡng, tôn giáo đã viết: “sự sùng tín của dân Việt Nam đối với các đạo cũng như đối với các sức mạnh vô hình đã chi phối phần thiêng liêng của con người. Nói đến sùng tín tức là nói đến thờ phụng nói đến việc thi hành những nghi thức đặt ra bởi một tôn giáo nghi thức khác nhau tùy theo tôn giáo và trong một tôn giáo cũng có khi cũng khác nhau tùy theo các vị thần linh được tôn thờ” [2,tr. Ở đây, tác giả Đất lề quê thói đã dùng khái niệm “tôn giáo” để gọi chung cho các hiện tượng sùng tín. Ngô Đức Thịnh quan niệm về tôn giáo tín ngưỡng như sau: “ đó là một bộ phận của đời sống văn hóa tinh thần con người mà ở đó con người cảm nhận được sự tồn tại của các vật thể lực lượng siêu nhiên mà những cái đó chi phối, khống chế con người; Nó nằm ngoài giới hạn, hiểu biết của con người hiện tại; sự tồn tại của các phương tiện biểu trưng giúp con người 16 thông quan với các thực thể các sức mạnh siêu nhiên đó; đó là chất kết dính tập hợp con người thành một cộng đồng nhất định và phân định với cộng đồng khác.
Tất cả những niềm tin thực hành và tình cảm tôn giáo tín ngưỡng trên đều sản sinh và tồn tại trong một môi trường tự nhiên, xã hội và văn hóa mà con người đang sống theo cách suy nghĩ và cảm nhận của nền văn hóa đang chi phối họ [23, tr. Quan niệm này cho rằng tín ngưỡng là một yếu tố của văn hóa, trong đó con người tin và cảm nhận các lực lượng siêu nhiên nhưng con người không lý giải được, đồng thời nêu lên chức năng và những yếu tố để nó tồn tại trong xã hội. TS Hoàng Thị Lan nêu khái niệm tín ngưỡng dân gian với hàm nghĩa “để chỉ các hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần dân dã của con người gắn với niềm tin sự ngưỡng mộ sùng bái những sự vật hiện tượng thiêng, những thần thánh, sùng bái thờ phụng linh hồn con người chết nhằm cầu mong sự phù hộ độ trì, đem lại hạnh phúc cho cuộc sống con người phản ánh rõ nét nhất đặc trưng văn hóa dân tộc. Như vậy, tín ngưỡng - theo nhà nghiên cứu này là một sinh hoạt văn hóa, là sự sùng bái thần thánh để cầu mong những điều hạnh phúc, thể hiện những nét văn hóa độc đáo.
Một điều dễ nhận thấy là khái niệm tín ngưỡng thường đi cùng khái niệm tôn giáo và cũng có nhiều quan điểm nghiên cứu xung quanh hai thuật ngữ này. Theo Từ điển tiếng Việt, tín ngưỡng có nghĩa là sự tin tưởng vào sức mạnh của một đấng thiêng liêng và những giáo lý của một tôn giáo[4, tr. Theo cách hiểu đó, thì tín ngưỡng và tôn giáo có sự gắn bó với nhau và tín ngưỡng thì mang nghĩa rộng hơn tôn giáo. Về phương diện luật pháp theo khoản 1 và 5 Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016: “Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng.
Tôn giáo là niềm tin của 17 con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức”. Như vậy, luật pháp Việt Nam cũng đã phân biệt hai khái niệm tín ngưỡng và tôn giáo tuy cùng điểm chung là niềm tin.[51] Đối với một số nhà nghiên cứu, nhất là những người bị ảnh hưởng bởi các lý thuyết phương Tây thì “tín ngưỡng” và “tôn giáo” là hai khái niệm khác nhau. Họ cho rằng tôn giáo có một hệ thống tổ chức cụ thể, chặt chẽ hơn so với tín ngưỡng: đó là tôn giáo có giáo lý, giáo hội và giáo chủ. Bởi vậy, tín ngưỡng ở một phạm trù thấp hơn so với tôn giáo [11, tr.
Mặc dù vậy, cách nhìn tuyến tính này đã bị nhiều người phê phán. Nhà nghiên cứu Kendall cho rằng, hiểu theo nghĩa rộng, tín ngưỡng cũng là một loại hình tôn giáo, và nó là tôn giáo đại chúng, tức là tôn giáo dành cho mọi tầng lớp, không phân biệt địa vị xã hội [14]. Leopold Cardie, một nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam đã chỉ trích tư tưởng tôn giáo của phương Tây, ông cho rằng nếu cứ gò bó theo những khuôn khổ cứng nhắc của châu Âu thì Việt Nam không có tôn giáo:“ Họ không có một đấng siêu việt, vượt qua thế giới, không có một thần thánh nào mà người dân về phương diện tôn giáo lại có hình thức đứng cao trên họ. Đứng trên ý nghĩa đó mà tôi cho rằng người Việt Nam không biết Đức Chúa Lời”.
Nhưng nếu ta quan niệm tôn giáo là niềm tin và thực hành ảnh hưởng đến cách ứng xử theo lẽ phải của cuộc đời và đến một thế giới siêu nhiên, thì ta thấy người Việt Nam có đức tính đó ở mức độ cao”. Cadiere đã khẳng định một cách dứt khoát về tôn giáo ở Việt Nam: “Một số tác giả hay đúng hơn là vài nhà du lịch vội vàng hời hợt cho rằng người Viễn Đông không có tôn giáo. Tôi có ý kiến ngược lại. Người Viễn Đông, đặc biệt là người Việt Nam có tâm thức tôn giáo rất cao”… [37, pg.43] GS Đặng Nghiêm Vạn cũng đồng tình với Cardie bởi khái niệm tín ngưỡng khi dịch ra các thứ tiếng được hiểu với hai ý nghĩa, đó là niềm tin và 18 tôn giáo (belief, believes (Anh), verôvanhie (Nga) hay croyance religieuse (Pháp)…).
Ông cho rằng theo nghĩa rộng thì tín ngưỡng bao hàm cả quan niệm về tín ngưỡng như một số nhà nghiên cứu cho rằng ở mức độ thấp hơn tôn giáo và cũng là niềm tin tôn giáo (foi hay croyance religieuse). Ông sử dụng cụm từ “tôn giáo dân tộc” để định danh những tín ngưỡng cổ truyền của người Việt Nam. Trong luận văn này, khái niệm Tín ngưỡng cũng được coi là tôn giáo và được hiểu như sau: Tín ngưỡng là niềm tin và sự ngưỡng vọng của con người đối với các lực lượng siêu nhiên, tuy vô hình nhưng lại có tác động không nhỏ đến cuộc sống của con người. Tín ngưỡng góp phần tạo nên chỗ dựa về tinh thần, tâm linh cho mỗi con người để họ vượt qua được những khó khăn, trắc trở trong cuộc sống và thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa con người với tự nhiên và với xã hội.
Khái niệm tín ngưỡng thờ cây thiêng Tín ngưỡng thờ cây thiêng là một trong những tín ngưỡng cổ sơ trên thế giới. Phần lớn các nhà nghiên cứu đều có chung quan điểm cây thiêng là nơi ở của những vị thần. Trong tác phẩm Tree Worship (Tín ngưỡng thờ cây) nhà nghiên cứu John Walter Taylor đã trích dẫn một số quan niệm về tín ngưỡng thờ cây của các nhà nghiên cứu trước đây. Nhà nghiên cứu Evander: "Khu rừng này.
ngọn đồi với vương miện đầy lá này - mặc dù chúng ta không biết đó là vị thần nào - nhưng vẫn là nhà của các vị thần.Nhà nghiên cứu Pliny cho rằng “Cây cối được các linh hồn thuê”, “cây cối là đền thờ của các vị thần" [35, pg. Jacob Grimm, trong tác phẩm Thần thoại Teutonic của mình, sau khi xem xét từ nguyên khá phức tạp, đã kết luận rằng đối với các dân tộc Đức: 'ngôi đền' cũng có nghĩa là 'rừng'. “Ở đó vị thần ngự, che giấu hình dạng của mình trong tán lá xào xạc của cành cây.79-141] 19 Nhà nghiên cứu Leopold Cardie khi nói về tín ngưỡng thờ cây cũng cho rằng “Giữa cây và thần linh có một một tương quan chặt chẽ hơn nhiều chứ không phải chỉ là tương quan giữa nơi ở và người ở. Trong tín ngưỡng Việt Nam hiện nay, thần linh tách biệt với cây, nhưng thực tế cả hai chỉ là một.
Ông cũng dẫn ra những trường hợp mà các con tinh, thần cây đã tác động đến cuộc sống của con người như thế nào: “vị thần ấy, đó là bà Hỏa hiện thân của lủa đang hung hăng tàn phá”, “ họ phải thờ cúng bà”, “những nơi mà nếu không thờ thì nhà phải cháy” [15, tr. Ngược lại một số trường hợp nếu người dân cúng lễ một cách chu đáo, cẩn thận thì những người bị bệnh sẽ khỏi, làm ăn buôn bán thuận lợi. Cây thiêng ở Việt Nam được hiểu là những cây cổ thụ thường được trồng ở các đình, đền, chùa, các di tích lịch sử. Chúng thường là những “cây cao bóng cả”, tuổi thọ hàng trăm năm, là những chứng nhân cho biết bao sự kiện lịch sử, có giá trị không chỉ về mặt sinh học, cảnh quan mà còn là văn hóa và tâm linh, được người dân rất coi trọng.
Một số loại cây mà người ta cho là cây thiêng như cây đa, cây gạo, lúa, thị, đại, si, sanh, bồ đề, ruối, muỗm… Luận văn này cho rằng tín ngưỡng thờ cây thiêng là niềm tin của con người rằng một số loại cây đặc biệt (cây cổ thụ như cây đa, bồ đề, si, gạo,…) có những linh hồn thần linh trú ngụ có thể giúp đỡ con người khi con người cầu cúng bằng tấm lòng thành kính, hoặc trừng trị con người nếu con người có hành vi bất kính hay mạo phạm đến cây. Quan niệm vạn vật hữu linh (Animism) Theo từ điển Britanica, thuyết vạn vật hữu linh hay còn gọi là thuyết vật linh là niềm tin vào vô số sinh vật tâm linh liên quan đến hoạt động của con người và có khả năng giúp đỡ hoặc làm tổn hại đến lợi ích của con người.