Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán chỉ phí và tính giá thành dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện công lập. ~ Chương 2: Thực trạng kế toán chỉ phí và tính giá thành dịch vụ khám chữa bệnh tại Bệnh viện Mắt thành phó Đà Nẵng, ~ Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán chỉ phí và tính giá thành dịch vụ khám chữa bệnh tại Bệnh viện Mắt thành phó Đà Nẵng. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ KÉ TOÁN CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH DỊCH VỤ KHÁM CHỮA BỆNH TẠI BỆNH VIỆN CÔNG LẬP NIEM, DAC DIEM VA PHAN LOAI CUA BENH VIEN CÔNG 1.1 Khái niệm bệnh viện công lập Đơn vị sự nghiệp y tế công lập là tổ chức do cơ quan nhà nước có thẳm quyền thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản và tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán để thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công hoặc phục vụ quản lý nhà nước trong các lĩnh vực chuyên môn y tế như: Y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh; điều dưỡng và phục hồi chức năng; giám định y khoa, pháp y, pháp y tâm thần; y dược cổ truyền; kiểm nghiệm dược, mỹ phẩm, trang thiết bị y tế; an toàn vệ sinh thực phẩm; dân số - kế hoạch hóa gia đình; sức khỏe sinh sản; truyền thông giáo dục sức khỏe (Chính phủ, 2012). Theo đó, đơn vị sự nghiệp y tế công lập là cơ sở y tế công lập thuộc hệ thống y tế quốc dân được Nhà nước thành lập và đầu tư về kinh phí và cơ sở vật chất, hoạt động chủ yếu bằng nguồn ngân sách nhà nước (NSNN) hoặc các khoản đóng góp phi vụ lợi nhằm cung cấp các địch vụ có chất lượng cao phục vụ cho sự nghiệp chăm sóc sức khỏe và nhu cầu phát triển của đất nước.
Trên cơ sở khái niệm về đơn vị y tế công lập, BV công lập có thẻ được hiểu là đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực y tế đáp ứng các tiêu chuẩn sau: (ï) có văn bản quyết định thành lập của cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương hoặc địa phương; (i ) được Nhà nước cung cắp kinh phí và tài sản để thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn và được phép thực hiện một số khoản thu theo quy định của Nhà nước; (iii) có tổ chức bộ máy, biên chế và bộ máy quản lý tài chính kế toán theo chế độ Nhà nước quy định; (iv) là đơn vị độc lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản (TK) riêng mở tại Kho. bạc Nhà nước.2 Đặc điểm bệnh viện công lập Các BV công lập với quy mô, chức năng, nhiệm vụ hoạt động khác nhau nhưng đều có một số đặc điểm chung như sau (Phùng Yến Linh, 2019): ~ Đơn vị BV công lập là một tổ chức hoạt động theo nguyên tắc cung cấp dịch vụ công chứ không vì mục tiêu lợi nhuận. - Sản phẩm của đơn vi BV công lập là sản pham mang lại lợi ích chung, có tính bền vững và gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của cải vật chất. - Hoạt động của đơn vị BV công lập luôn gắn liền và bị chỉ phối bởi các.
chương trình phát triển kinh tế xã hội. - Các đơn vị BV công lập có nguồn thu hợp pháp từ hoạt động sự nghiệp yté 1.3 Phân loại bệnh viện công lập Tùy vào cách phân loại khác nhau, BV công lập có thẻ phân loại theo hai nhóm: ~ Theo phân cáp địa giới hành chính: BV công lập được phân tuyến theo. địa giới hành chính bao gồm BV tuyến trung ương, BV tuyến tỉnh, BV tuyến huyện và trạm y tế xã, phường. ~ Theo mức độ tự chủ tài chính, BV công lập được phân chia thành: + Bệnh viện công lập tự bảo đảm chỉ thường xuyên và chỉ đầu tư: Là đơn vị có nguồn thu từ các hoạt động tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên và kinh phí đầu tư phát triển của đơn vị + Bệnh viện công lập tự bảo đảm chỉ thường xuyên: Là đơn vị có nguồn thu từ các hoạt động tự bảo đảm được kinh phí hoạt động thường xuyên của đơn vị.
+ Bệnh viện công lập tự bảo đảm một phần chỉ thường xuyên: Là đơn vị có nguồn thu từ các hoạt động nhưng chưa tự bảo đảm được toàn bộ chỉ phí hoạt động thường xuyên của đơn vị. Phần kinh phí chỉ thường xuyên đơn vị chưa tự bảo đảm được NSNN cấp. + Bệnh viện công lập do nhà nước bảo đảm chỉ thường xuyên: Là đơn vị có nguồn thu từ các hoạt động thấp hoặc không có nguồn thu, NSNN phải bảo. đảm toàn bộ kinh phí hoạt động của đơn vị.
Tự chủ là giúp BV công lập giải quyết triệt đẻ những khó khăn từ việc quản lý kém hiệu quả từ các cơ quan chủ quản đối với các BV có chất lượng. Mặc dù BV công lập được giao quyền tự chủ tài chính nhưng phần sở hữu vẫn do nhà nước đảm bảo duy trì và hoàn thành các nhiệm vụ xã hội có tính chất phi lợi nhuận.2 KHÁI QUÁT VỀ CHI PHÍ VÀ GIÁ THÀNH DỊCH VỤ SỰ NGHIỆP.1 Chỉ phí dịch vụ sự nghiệp công a) Khái niệm ~ Chỉ phí là sự giảm sút các lợi ích kinh tế trong kỳ báo cáo dưới hình thức tiêu thụ tài sản và các luồng ra hoặc gánh chịu các khoản nợ phải trả, làm giảm tài sản thuần/vốn chủ sở hữu mà không mà không phải là khoản phân phối cho các chủ sở hữu (IPSAS, 2006). Chỉ phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế của đơn vị trong kỳ kế toán, góp phần giảm vốn chủ sở hữu một cách gián tiếp (Đào Xuân Tiên, Lê Văn Liên và Nguyễn Thị Hồng Vân, 2014). 10 - Chi phí có thẻ được định nghĩa là các khoản chỉ tiêu (thực tế hoặc danh nghĩa) phát sinh đề đạt được một mục tiêu nhất định.
Chỉ phí cũng có thể được mô tả như là nguồn tài nguyên đã bị hao tổn để đạt được một mục tiêu cụ Nói cách khác, chỉ phí là lượng tài nguyên sử dụng cho một mục đích nhất định và phải được đo bằng tiền (Brewer và cộng sự, 2020). Các khái niệm trên đều đề cập chỉ phí có thê được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Theo tác giả, chỉ phí dịch vụ sự nghiệp công (SNC) là sự biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí mà đơn vị sự nghiệp công lập (SNCL) can phải chỉ ra nhằm cung cấp hoạt động dich vu SNC cho người sử dụng dịch vụ trong một thời kỳ. Hiện nay, Nhà nước đang từng bước chuyển đổi các đơn vị SNCL có nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước sang tự chủ tài chính.
Do đó, các chính sách, quy định về chỉ phí dịch vụ sự nghiệp công đang từng bước tiệm cận khái niệm với chỉ phí dịch vụ sự nghiệp tư, giúp các đơn vị SNCL có cơ chế thoải mái, minh bạch hơn trong việc xác định chỉ phí từ đó đưa ra các giải pháp tối ưu nhằm nâng cao thu nhập cho cán bộ, viên chức, người lao động trong đơn vị SNCL b) Đặc điểm Có thể nói, dù khác nhau về cách diễn đạt, hình thức thể hiện nhưng tựu. chung lại thì chỉ phí có bốn đặc điểm chính là: ~ Là hao phí về vật chất (gồm cả hữu hình và vô hình) và hao phí lao động. - Các hao phí này gắn liền với mục đích sản xuất kinh doanh. - Phát sinh gắn với một khoảng thời gian (kỳ kế toán) nhất định.
- Phải được lượng hóa bằng tiền. 1I Để quản lý có hiệu quả và đưa ra những quyết định chính xác, kịp thời, đơn vị SNCL cần phải biết khối lượng chỉ phí đã chỉ ra để hoàn thành cung cấp dich vu SNC là bao nhiêu, khối lượng chi phí cấu thành trong dịch vụ hoàn thành là bao nhiêu, tỷ trọng từng loại chỉ phí 'Về bản chất chỉ phí dịch vụ SNC là những hao phí lao động sống và lao. động vật hóa cần thiết cho việc duy trì và phát triển hoạt động của đơn vị SNCL. Hiện nay, chỉ phí dịch vụ SNC được bù đắp từ các nguồn sau: - Ngân sách nhà nước tài trợ (đang có xu hướng giảm do nhà nước đang tiến dành cỗ phần hóa, tự chủ các đơn vị SNCL).
~ Thu từ hoạt động sản xuất, dịch vụ của đơn vị (Nguồn bù đắp chính các hao phí của các đơn vị SNCL) - Đóng góp của xã hội như của các tổ chức phi lợi nhuận, các tổ chức kinh tế - xã hội v.2 Giá thành dịch vụ sự nghiệp công a) Khái niệm Một cách chung nhất, giá thành dịch vụ là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ. những hao phí về lao động sống và lao động vật hóa được tính cho một đại lượng, kết quả, dịch vụ hoàn thành nhất định (Ngô Thế Chỉ, Trương Thị Thủy, 2013). Tất cả các khoản chí phí phát sinh (trong kỳ, kỳ trước chuyển sang) và các khoản chỉ phí trích trước có liên quan đến khối lượng dịch vụ hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu giá thành dịch vụ. Giá dịch vụ SNC sử dụng NSNN được xác định theo quy định của pháp „ định mức kinh tế-kỹ thuật, định mức chỉ phí do cơ quan có thẩm quyền ban hành và lộ trình tính giá dịch vụ SNC sử dụng NSNN quy định (Chính phủ, 2021).
12 Như vậy, giá thành dich vu là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh những hao phí mà đơn vị phải bỏ ra để hoàn thành một khối lượng dịch vụ nhất định. Những chỉ phí đưa vào giá thành dịch vụ phản ánh được giá trị thực của các tư liệu sản xuất tiêu dùng cho quá trình cung cấp dịch vụ và các khoản chỉ tiêu khác khối lượng dịch vụ hoàn thành trong kỳ là cơ sở hình thành nên giá thành của dịch vụ. b) Đặc điểm 'Về mặt bản chất, chỉ phí dịch vụ và giá thành địch vụ có mối quan hệ mật thiết với nhau, đều biểu hiện bằng tiền những hao phí về lao động sống và lao. động vật hoá mà đơn vị đã sử dụng, nhưng khác nhau về mặt lượng (Lê Thanh Dung, 2022).
Chỉ phí được tính toán cho một thời kỳ nhất định nên không phân biệt là dịch vụ liên quan đến các khoản chỉ phí này đã hoàn thành hay chưa. Trong khi đó, giá thành dịch vụ được xác định cho một dịch vụ nhất định nên được tính bằng lượng chỉ phí tiêu hao cho một khối lượng dịch vụ nhất định đã hoàn thành hoặc cần xác định giá thành.3 PHAN LOẠI CHI PHÍ VÀ GIÁ THÀNH DỊCH VỤ SỰ NGHIỆP.