chương I Luật kế toán 88/2015/QH13 ngày 20/11/2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017. Năm 2006, Bộ tài chính ban hành thông tư số 53/2006/TT-BTC ngày 12/06/2006 hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp. Thông tư chi tiết: “ KTQT nhằm cung cấp các thông tin về hoạt động nội bộ của doanh nghiệp như: chi phí từng bộ phận (trung tâm chi phí), từng công việc, sản phẩm; phân tích, đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu, chi phí, lợi nhuận; quản lý tài sản; vật tư, tiền, vốn, công nợ; phân tích mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng và lợi nhuận; lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định đầu tư ngắn hạn và dài hạn; lập dự toán sản xuất, kinh doanh… nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra quyết định kinh tế. KTQT là công việc của từng doanh nghiệp, Nhà nước chỉ dẫn các nguyên tắc, cách thức tổ chức và nội dung, phương pháp kế toán quản trị chủ yếu tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện”.
Theo giáo trình Kế toán quản trị (Đặng Thị Hòa, Trường Đại học Thương Mại, 2006): “ KTQT là khoa học thu nhận, xử lý cung cấp thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh một cách cụ thể phục vụ cho các nhà quản lý trong việc lập kế hoạch, điều hành, tổ chức thực hiện kế hoạch và quản lý hoạt động kinh tế tài chính trong nội bộ doanh nghiệp.” Tóm lại, từ các định nghĩa trên ta có thể hiểu kế toán quản trị là quá trình thu thập, xử lý, phân tích và lập báo cáo nội bộ nhằm cung cấp thông tin phục vụ chủ yếu cho những nhà quản lý bên trong doanh nghiệp, giúp họ đưa ra các quyết định kinh tế và vạch ra kế hoạch cho tương lai phù hợp với chiến lược kinh doanh. Như vậy, kế toán quản trị đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp cho nhà quản trị các thông tin hữu ích phục vụ cho việc lập kế hoạch, soát xét và kiểm soát các hoạt động cũng như thực hiện quá trình ra quyết định. Nhiệm vụ của nhà quản trị bao gồm việc xác định mục tiêu và đề xuất giải pháp nhằm đạt được mục tiêu đề ra; đồng thời phải đảm bảo rằng các mục tiêu đã 13 đề ra được hiện thực hóa một cách thành công. Để có thể thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, nhà quản trị phải được cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan, trong đó thông tin về chi phí là một trong những thông tin vô cùng quan trọng.
Hầu hết, các quyết định của nhà quản trị đều phụ thuộc vào thông tin về chi phí, do đó hệ thống kế toán quản trị phải có khả năng cung cấp cho nhà quản trị những thông tin đầy đủ, kịp thời, tin cậy về chi phí. KTQT nói chung, KTQTCP nói riêng là một nội dung cơ bản và quan trọng trong hệ thống kế toán của một doanh nghiệp. Ở góc độ kế toán tài chính, bộ phận kế toán chi phí có chức năng tính toán, đo lường chi phí phát sinh trong doanh nghiệp theo đúng các nguyên tắc kế toán để cung cấp thông tin về giá vốn hàng bán, các chi phí hoạt động trên báo cáo kết quả kinh doanh và giá trị hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán. Ở góc độ kế toán quản trị, bộ phận kế toán chi phí có chức năng đo lường, phân tích về tình hình chi phí và khả năng sinh lời của các sản phẩm, dịch vụ, các hoạt động và các bộ phận của tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu năng của quá trình hoạt động kinh doanh.
Với các phân tích trên, có thể cho rằng kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của hệ thống kế toán quản trị nhằm cung cấp thông tin về chi phí để mỗi doanh nghiệp thực hiện chức năng quản trị yếu tố nguồn lực tiêu dùng cho các hoạt động, nhằm xây dựng kế hoạch, kiểm soát, đánh giá hoạt động và ra các quyết định hợp lý.2 Nhu cầu thông tin chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp cho quản trị doanh nghiệp xây lắp.1 Đặc điểm doanh nghiệp xây lắp và nhu cầu thông tin chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm xây lắp cho quản trị doanh nghiệp Doanh nghiệp xây lắp là doanh nghiệp sản xuất vật chất, hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cơ bản - lĩnh vực quan trọng tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân. So với các ngành sản xuất khác, ngành xây lắp có những đặc điểm riêng về kinh tế - kỹ thuật, được thể hiện rõ nét trong quá trình tạo ra sản phẩm và ở chính sản phẩm xây lắp mà ngành tạo ra: 14 - Sản phẩm xây lắp được tạo ra là sản phẩm đơn chiếc: Sản phẩm xây lắp là những công trình xây dựng, vật kiến trúc.có kết cấu phức tạp mang tính đơn chiếc, mỗi sản phẩm có yêu cầu riêng về tiêu chuẩn kỹ thuật, mỹ thuật, kết cấu, hình thức. Vì vậy, việc tổ chức quản lý và tổ chức kế toán quản trị nhất thiết phải có các dự toán thiết kế thi công. Điều này giúp cho các doanh nghiệp xây lắp có thể dự đoán tương đối chính xác về giá trị công trình, từ đó lên kế hoạch về tài chính cũng như giám sát các chi phí phát sinh đối với từng công trình.
Cũng do tính chất đơn chiếc, KTQT phải theo dõi, giám sát chi phí, giá thành và kết quả thi công cho từng công trình xây lắp riêng biệt. - Sản phẩm xây lắp được bán theo giá dự toán hay giá thỏa thuận với người giao thầu từ trước Sản phẩm xây lắp chỉ được tiến hành sản xuất sau khi có đơn đặt hàng (hợp đồng giao nhận thầu) của người giao thầu (người mua sản phẩm). Nói cách khác là sản phẩm xây lắp thường được sản xuất theo hợp đồng đã được ký kết do đó tính chất hàng hoá của sản phẩm xây lắp thường không thể hiện rõ nét. Do vậy, nhà quản trị cần thông tin KTQT để theo dõi chặt chẽ các chi phí phát sinh và quản lý tốt các nguồn lực của doanh nghiệp trong quá trình xây lắp để đảm bảo chi phí sản xuất nằm trong phạm vi cho phép, đảm bảo có lãi cho doanh nghiệp.
- Sản phẩm xây lắp có giá trị lớn và thời gian thi công dài Sản phẩm xây lắp có kích thước và giá trị lớn thường vượt quá số vốn lưu động của doanh nghiệp xây lắp. Hơn nữa thời gian thi công tương đối dài, trong thời gian sản xuất thi công xây dựng doanh nghiệp chưa tạo ra sản phẩm cho xã hội nhưng lại sử dụng nhiều vật tư, nhân lực, chi phí… điều này làm cho vốn sản xuất của doanh nghiệp xây lắp thường bị ứ đọng lâu tại công trình đang xây dựng. Chính vì vậy, các doanh nghiệp xây lắp phải kiểm tra chặt chẽ chất lượng công trình; phải có chế độ thanh toán giữa kỳ và dự trữ vốn phù hợp; quản lý, theo dõi các khoản mục phí trong quá trình sản xuất thi công chặt chẽ nhằm đảm bảo sử dụng vốn tiết kiệm. 15 Mặt khác do thời gian thi công tương đối dài nên kỳ tính giá thành không xác định hàng tháng như trong sản xuất công nghiệp mà được xác định tùy thuộc vào đặc điểm kỹ thuật của từng loại công trình, vào phương thức thanh toán giữa hai bên giao thầu và nhận thầu.
Đối tượng tính giá thành có thể là sản phẩm xây lắp hoàn thành hoặc là điểm dừng kỹ thuật hợp lý. Sản phẩm xây lắp có kích thước và trọng lượng lớn nên đòi hỏi số lượng lao động, số lượng nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ phục vụ sản xuất lớn, khác nhau, vì vậy giá thành sản phẩm xây lắp rất phức tạp và thường xuyên thay đổi theo từng giai đoạn. Việc xác định đúng đắn đối tượng tính giá thành và kỳ tính giá thành sẽ đáp ứng yêu cầu quản lý kịp thời và chặt chẽ chi phí sản xuất, đánh giá đúng đắn tình hình quản lý thi công trong từng thời kỳ nhất định. - Thời gian sử dụng sản phẩm xây lắp tương đối dài: Sản phẩm xây lắp là những công trình, kiến trúc.có quy mô và giá trị lớn, tạo nên cơ sở vật chất của nền kinh tế quốc dân, có thời gian sử dụng dài do vậy mọi sai sót trong quá trình xây dựng là những sai lầm ít khó có điều kiện sửa chữa, khắc phục một cách triệt để, đây là những sai lầm nhiều khi để lại những hậu quả rất nghiêm trọng, lâu dài và khó khắc phục.
- Hoạt động thi công xây lắp cố định tại nơi sản xuất còn các điều kiện sản xuất (xe, máy, thiết bị thi công, người lao động) .phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm. Đặc điểm này làm khó khăn cho việc tổ chức sản xuất, khó cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động, làm nảy sinh nhiều chi phí cho khâu di chuyển lực lượng sản xuất và cho công trình tạm phục vụ sản xuất như: chi phí điều động nhân công, điều động máy thi công, chi phí xây dựng tạm công trình phục vụ công nhân và máy móc thi công, chi phí chuẩn bị mặt bằng và dọn mặt bằng sau khi thi công xong… đòi hỏi kế toán phải xác định và phản ánh chính xác chi phí này và tổ chức phân bổ chi phí cho hợp lý - Hoạt động thi công xây lắp thường diễn ra ngoài trời, chịu tác động trực tiếp bởi điều kiện thiên nhiên, môi trường và do đó việc thi công ở một mức độ nào đó mang tính chất thời vụ. Do đặc điểm này, trong quá trình thi công cần tổ chức quản lý 16 lao động, vật tư chặt chẽ, đảm bảo thi công nhanh, đúng tiến độ và có kế hoạch điều động cho phù hợp nhằm tiết kiệm chi phí, hạ giá thành. - Để nhận được công trình, các doanh nghiệp xây lắp thường phải trải qua khâu đấu thầu.
Do đó công tác xác định giá dự toán của công trình cần phải được coi trọng để từ đó xác định mức giá bỏ thầu hợp lý, đảm bảo hiệu quả hoạt động kinh doanh xây lắp của doanh nghiệp và khả năng trúng thầu. Những đặc điểm này của hoạt động xây lắp đòi hỏi việc quản lý, giám sát phải được tiến hành chặt chẽ để đảm bảo công trình thi công được tiến hành theo đúng tiến độ và sản phẩm xây lắp đạt tiêu chuẩn cả về kỹ thuật cũng như tiêu chuẩn về kinh tế. Do vậy thông tin KTQT đầy đủ, thích hợp là yêu cầu cấp thiết để giúp nhà quản trị ra quyết định ngắn hạn và dài hạn.