CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan về Thị trấn L n N ĩa 1. Đ ều kiện địa lí tự nhiên 1. Vị trí địa lí Thị trấn Liên Nghĩa là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của huyện Đức Trọng, có tổng diện tích khoảng 7km2, chiếm khoảng 0,78% diện tích toàn huyện Đức Trọng, phía Đông giáp huyện Đơn Dƣơng, phía Tây giáp xã N’Thol Hạ và xã Tân Hội, phía Nam giáp xã Phú Hội, phía Bắc giáp xã Hiệp Thạnh.
Khí hậu Thị trấn Liên Nghĩa n m trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, h ng năm có hai mùa rõ rệt là mùa mƣa và mùa khô. Mùa mƣa từ tháng 4 đến tháng 11 và mùa khô từ cuối tháng 11 đến đầu tháng 4 năm sau. Do n m ở khu vực đồi núi có độ cao trung bình 900m so với mực nƣớc biển, nên khí hậu ở đây khá ôn hòa, biên độ nhiệt giữa ban ngày và đêm không lớn lắm, nhiệt độ không khí thấp. Nhiệt độ bình quân ban đêm là 180C và ban ngày là 260C.
Điều kiện khí hậu rất thích hợp với các loại cây lƣơng thực, rau màu và các loại cây công nghiệp khác. Nguồn gốc của dân tộc Nùng 1. Nguồn gốc của người Nùng ở Việt Nam Về nguồn gốc của ngƣời Nùng hiện nay vẫn còn nhiều tranh cãi. Theo giả thuyết của Chu Thái Sơn và Hoàng Hoa Toàn2, ngƣời Nùng ở Việt Nam có nguồn gốc từ một nhóm ngƣời do Nùng Trí Cao lãnh đạo: Từ thế kỷ thứ VII trở đi, một số dòng họ có thế lực đã nổi dậy chống lại sự kềm kẹp của nhà Đƣờng.
Sang thế kỷ X, một thủ lĩnh họ Nùng là Nùng Dân Phú đã làm thủ lĩnh của 10 châu vùng Quảng Uyên. Năm 1038, nƣớc Trƣờng Sinh đƣợc thành lập, đóng đô tại Nà Lự, huyện Hòa An, tỉnh Cao B ng ngày nay, nhƣng chẳng bao lâu bị nhà Lý tiêu diệt. Năm 1041, Nùng Trí Cao lại lập ra nƣớc Đại Lịch ở châu Thảng Đo, sau đó lại liên kết với những ngƣời đồng tộc vùng Tả Giang (Quảng Tây) lập ra nƣớc Thiên Nam, lấy hiệu là Cảnh Thụy, cai quản cả một vùng rộng lớn gồm Cao B ng và một phần miền tây tỉnh Quảng Tây. 2 Chu Thái Sơn (chủ biên) và Hoàng Hoa Toàn, Người Nùng, NXB Trẻ, VN, 2006 6 Năm 1048, Nùng Trí Cao tổ chức cuộc chiến tranh chống lại nhà Tống, đã làm chủ một khu vực rộng lớn từ Ung Châu (Quảng Tây) đến Quảng Châu (Quảng Đông) làm chấn động cả c i Lĩnh Nam.
Nhƣng cuối cùng đã bị nhà Tống trấn áp mà thất bại. Cho đến nay, các dân tộc Tày, Nùng ở Việt Bắc và dân tộc Choang ở Quảng Tây vẫn coi Nùng Trí Cao là anh hùng và nhiều nơi hiện vẫn còn nhiều đền thờ. Sau cuộc nổi dậy thất bại của Nùng Trí Cao, nhà Lý (Việt Nam) và nhà Tống (Trung Quốc) đã tăng cƣờng kiểm soát ở vùng biên giới. Bộ phận bên kia biên giới Việt-Trung hình thành cộng đồng dân tộc Choang; bộ phận bên này biên giới hình thành dân tộc Tày.
Hiện nay, một số ngƣời Choang ở các vùng phía Tây và Tây Nam Quảng Tây và Đông Nam Vân Nam vẫn xƣng là “Nùng”, tộc danh Nùng có thể bắt nguồn từ dòng họ Nùng lớn mạnh trƣớc đây. Sự hình thành của tộc người Nùng ở Đức Trọng, Lâm Đồng Dân tộc Nùng có địa bàn cƣ trú khắp cả nƣớc, trong đó cƣ trú nhiều nhất ở vùng Tây Bắc. Năm 1954, sau khi kí kết hiệp định Geneve, có khoảng hơn một triệu đồng bào di dân vào Nam vì nhiều lí do nhƣ tôn giáo hay ủng hộ chính quyền Ngô Đình Diệm. Hành trình di dân vào Nam cũng khá phức tạp: đầu tiên họ từ các tỉnh miền núi phía Bắc sau đó xuống Hải Phòng, đến Quảng Ninh, sinh sống ở đây một thời gian, tiếp đó họ vào Sài Gòn và cuối cùng tỏa ra đi các tỉnh khác ở miền Nam: Đồng Nai, Bình Phƣớc… và nhiều nhất là tập trung ở Đức Trọng, Lâm Đồng.
Lúc đầu, số hộ dân ở đây là khoảng 120 – 130 hộ nhƣng sau đó một nhóm ngƣời nhận thấy cuộc sống ở đây cũng rất vất vả vì lúc ấy chủ yếu là làm nƣơng rẫy, dụng cụ thô sơ… cho nên khoảng 30 – 40 hộ quyết định di chuyển đến Định Quán (Đồng Nai) để sinh sống. Đến sau năm 1975, thì ngày càng có nhiều nhóm ngƣời qua đây làm ăn sinh sống. Những năm 90 cũng vẫn có vài nhóm ngƣời di dân qua đây sinh sống. Họ có thể tự mình trồng trọt, chăn nuôi hay làm thuê cho các vƣờn trồng rau, củ… cuộc sống dần dần đƣợc cải thiện hơn so với lúc trƣớc.
Ngày xƣa, tên gọi của các nhóm địa phƣơng Nùng xuất phát từ đặc điểm trang phục, tên địa danh là các vùng đất thuộc tỉnh Quảng Tây, nơi mà từ đó họ di cƣ đến Việt Nam, theo tên tù trƣởng… Theo nhƣ lời kể của bác Vi Thành Vinh thì khi mới đến đây, ngƣời Nùng đặt tên cho nơi ở của họ là Tùng Nghĩa (“Tùng”: sự tụ họp; “Nghĩa”: chí hƣớng, lí tƣởng) với ý nghĩa là dùng để chỉ sự tụ họp của những ngƣời có cùng chí hƣớng. Sau đó, chính quyền sát nhập xã Tùng Nghĩa với một phần xã Liên Hiệp để có cái tên Liên Nghĩa nhƣ ngày nay. Hay nhƣ địa danh Nam Sơn, ngày xƣa họ 7 đặt theo địa danh Cấm Sơn (quê hƣơng cũ của họ ở miền Bắc) nhƣng sau đó đổi thành Nam Sơn (chữ “Nam” có ý nghĩa là tiến vào Nam.) Đối với dân tộc Nùng, một dân tộc từ Trung Quốc di cƣ đến Việt Nam, trong chính văn hóa và tập tục mang những nét đặc trƣng riêng biệt. Việc hiểu r đƣợc nguồn gốc hình thành của một tộc ngƣời sẽ giúp ta dễ dàng tìm hiểu và lý giải về văn hóa cũng nhƣ tập tục đặc trƣng của tộc ngƣời đó.
Chính vì vậy, việc làm r nguồn gốc hình thành của ngƣời Nùng sẽ phục vụ cho quá trình nghiên cứu ở các phần sau của bài. Ngôn ngữ Theo nghiên cứu ngày nay thì tiếng Nùng thuộc nhóm Tày Thái n m trong khối Bách Việt. Mặc dù ngƣời Nùng không có chữ viết, nhƣng họ đã sáng tạo nên ngôn ngữ Nùng cho họ b ng cách tiếp nhận tiếng Hán rồi sửa đổi để tạo thành ngôn ngữ cho dân tộc mình (giống nhƣ chữ Nôm của ngƣời Việt) vì thế tiếng Nùng hay còn đƣợc gọi là tiếng Nôm Nùng. Về thời gian xuất hiện chữ Nùng thì không biết rõ chính xác là khoảng thời gian nào, nhƣng theo bác Vi Thành Vinh, nó cũng đã có lâu đời rồi (khoảng 200 đến 300 năm), kể từ khi ngƣời Nùng từ Quảng Tây Trung Quốc di cƣ sang Lạng Sơn, Bắc Giang của Việt Nam rồi lại di cƣ vào các tỉnh khác trong đó có Lâm Đồng.
Hoạt động kinh tế, văn óa v xã ội của đồng bào dân tộc Nùng ở Thị trấn L n N ĩa, uyện Đức Trọng, tỉn Lâm Đồng 1. Hoạt động kinh tế Trƣớc khi di cƣ đến vùng đất Lâm Đồng, đa phần hoạt động kinh tế chính của ngƣời Nùng là hoạt động nông nghiệp và làm nghề thủ công. Họ làm rẫy, làm ruộng và chăn nuôi, bên cạnh đó họ còn làm một số nghề thủ công truyền thống nhƣ nghề dệt, nghề rèn, nghề mộc, nghề đan lát, nghề gốm sứ… Khi di cƣ đến Thị trấn Liên Nghĩa, nơi đây vẫn còn là vùng đất rất hoang vu. Đồng bào ngƣời Nùng tiến hành khai khẩn đất đai, chặt rừng để làm rẫy.
Ban đầu, ngƣời Nùng chủ yếu làm rẫy, trồng bắp và đậu. Về sau, họ bắt đầu làm vƣờn, trồng lúa, trồng rau. Đến khoảng năm 1958, 1959 họ đã biết trồng khoai tây, hành tây. Đồng thời, họ tiến hành khai phá những vùng đất trũng hơn để làm ruộng nƣớc.
Họ cùng nhau đắp hồ Nam Sơn để trữ nƣớc phục vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, họ còn đào hệ thống kênh mƣơng để dẫn nƣớc vào đồng ruộng. Ngƣời Nùng rất giỏi trồng lúa. Họ biết cấy nhiều loại lúa và còn dạy cho các dân tộc khác. Việc cấy lúa của đồng bào ngƣời Nùng ở đây cũng giống với ngƣời Nùng ở phía Bắc, cũng trải qua các khâu: làm đất, gieo mạ, cấy lúa, chăm sóc và gặt lúa.
8 Khoảng năm 1961, 1962 với sự hỗ trợ từ các nông cơ nhƣ máy cày, máy xới hoạt động sản xuất nông nghiệp của ngƣời Nùng ở Liên Nghĩa đã đƣợc cải thiện đáng kể. Nhìn chung, hoạt động trồng trọt là hoạt động sản xuất đem lại thu nhập chính cho ngƣời Nùng ở đây. Ngƣời dân chủ yếu làm vƣờn, trồng trọt các loại hoa màu, rau củ. Do thiếu nguồn nƣớc, nên hoạt động trồng lúa nƣớc chủ yếu để cung cấp nguồn lƣơng thực trong gia đình.
Bên cạnh đó, ngƣời Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa còn chăn nuôi trâu, bò. Họ thƣờng nuôi trâu bò để lấy sức kéo, nhƣng ngày hôm nay với sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật thì số lƣợng trâu bò đã giảm và thay thế vào đó là heo. Một số hộ gia đình tham gia hoạt động thƣơng nghiệp, chủ yếu là buôn bán với quy mô nhỏ nhƣ đem các rau củ tự trồng ra chợ bán. Hoạt động xã hội Một trong những đặc thù của ngƣời Nùng trong hoạt động xã hội đƣợc thể hiện rõ rệt nhất đó chính là tinh thần đoàn kết giúp đỡ nhau khi một gia đình bất kì có đám tang.
Khi một gia đình có đám tang thì các gia đình khác sẽ giúp gia đình có tang làm tất cả các công việc (dựng rạp, chuẩn bị thức ăn…) gia đình ngƣời có tang chỉ có việc ngồi bên linh cữu ngƣời đã mất, bên cạnh đó các gia đình ngƣời Nùng khác trong làng mỗi gia đình sẽ bỏ ra 30 nghìn đồng để giúp đỡ cho gia đình ngƣời chịu tang, đây là một hoạt động mà theo bác Vi Thành Vinh chỉ có ở dân tộc Nùng. Gia đình của ngƣời Nùng thƣờng là phụ hệ, mỗi gia đình bao gồm một vợ một chồng và con cái chƣa lập gia đình của họ, con cái theo họ cha. Ông bà cha mẹ dạy con cái b ng cách nói nhẹ nhàng, giáo dục con cái b ng cách làm gƣơng tốt; con cháu kính trọng ông bà cha mẹ, anh chị em giúp đỡ nhau b ng tình cảm chân thành ruột thịt. Ngƣời Nùng rất cần cù, chịu khó, giàu lòng nhân ái.
Ngƣời Nùng rất coi trọng về việc thờ cúng mồ mã, thờ cúng ông bà chính vì vậy mà gia đình nào không có con trai sẽ rất buồn. Tập tục sống theo làng xã: ngƣời Nùng thƣờng tập trung sinh sống thành các làng bản. Tại huyện Liên Nghĩa, ngƣời Nùng chủ yếu sinh sống tại khu vực làng Nam Sơn.