mở đầu, Ví dụ : ha và hoa khu biệt nhau do âm sắc của âm tiết th ứ hai trầm hơn. Tuy chữ quốc ngữ âm đêm /u/ được thể hi ện bằng hai con chữ “lu/q ” khi trước nguyên âm hẹp và hơi hẹp : huy, huế, hud, huan hoặc khi đứng sau trong phụ âm /k/: qué, qua, quan. Nó được ghi bằng con chữ “o” khi xuất hi ện trước các nguyên 4m rộng hoặc hơi rộng. Vi đu : hoa hoe, hoa hoằn, Trang tiếng nói TP.HCM, trong cách phát âm thường ngày, hau như âm đệm không được phát âm rõ rang, có thể nghĩ đến hệ thống âm vị địa phương không có âm đệm.
Đó là chưa kể đến hiên tượng sau khi mỗi Am đệm còn kéo theo nhiều hiện tượng nghĩa rất phức tap. Ví đụ : wan — ung ; khoẻ ~ phê 3./ A m chính Nó có chức năng qui định âm sắcchủ yếu của âm tiết cóthể nói nề là âm tuy nhiên cũng là âm tiết. Trong hệ thống âm vị phản ánh trên chữ quốc ngữ có cả thầy 16 âm vị trong đó có 3 nguyên âm đôi có thể tóm At bằng bảng sau : AI. 2 /é?/ --"é@" KỆ fe fa"“e e ” 4 tưựƒ-”=- tf 3 /g/.
fufe-"u" 8 P6/---" 4, 66" 9 fo/--- "90,00" Nguyễn âm 10, /e/--- “anh, ách " ngắn 11. /ưd/---“ug ưa” Nguyên âm dat 16, /uo/---“ uo” (ua) Vì li do kĩ thuật in ấn, buộc lòng chúng tôi phải ghi bang chữ la tinh, chứ không thể ghi bằng chữ phiên âm quốc tế được. Việc thể hiện âm chính ở TP.HCM cũng hết sức phức tạp. Trong một số hối cảnh nhất định, các nguyên âm đẩy nhau./ cuối Âm N6 có chức năng kết thúc âm tiết.
Cách kết thúc khác nhau về làm thay đổi âm sắc của âm tiết và chính điểu nay sẽ khu biệt âm tiết này với âm tiết khác. Trong liếng việt có 9 Am cuối, có thể thâu tóm tat bằng bang sau : 1)ïp/! “p” 2.)/m/ "mỉ? 313/n/ 'nẺ 6)/ng/ 'ng,ngh' 7.)/1/ “aye 9)/ø8/ Khuyết con chữ : ta, đi, chợ - Trong tiếng nói ở TP.HCM âm cuối cũng nảy sinh khá nhiều vấn dé trong phát âm, nhất là khi nó kết hợp với âm chính. Un --- ung : trin/ tring It---ic : tit /tic Ấn --- ang : lan / tang. Tất cả những hình dung có phần sơ lược trên đây là những kiến thức rất cần thiết cho việc xem xét những lỗi chính tả do phat âm địa phương ở sau, II.
THỐNG KỂ VA PHAN LOAI CÁC DANG LOL: nhau, chúng tội thu được 1000 lỗi các loai trong đó gồm : - 350 lỗi thuộc về âm dau chiếm tỷ lệ : 35% - 340 lỗi rơi vào phan vẫn chiếm tỷ lệ : 34% - 200 lỗi thuộc về thanh, nói cụ thể là sai do lẫn lộn dấu hỏi và dấu ngã chiếm tỷ lệ : 20% - 110 trường hợp sai bao trùm lên toàn bộ âm tiết chiếm tỷ lệ : 11% Tất cả có thể minh hoa bằng biểu đổ sau : BIỂU ĐỒ MINH HỌA -> lỗi sai vé thanh > lỗi sai về tiếng - Dang lỗi II. Qua kết quả thống kê vã phân loai lỗi, chúng tôi xin được rúra t một số nhân xét bước đầu sau : học sinh mắc nhiều lỗi sai ở âm dau, Trong chính tả có 22 âm đầu trong đó có hai âm có hai cách viết : “âm g”: viết là “gh” trước ¡,e, ê và lê và là “g" trong những trường hợn còn lại. “âm ng”: viết là “ngh" trước i, e, ê, lê vàviết là “ng” trong những trưng hợp còn lại. Lại có âm đầu viết 3 cách là 4U viết hằng chữ “k” khi đứng trước i, 6, ê, iê.Ví dụ : ký, kẻ, kể, kiếp,.
Viết bằng con chữ “q” khi đứng trước các bán nguyễn âm là âm đệm : quả, quân, quê. còn lại được viết bằng con chữ "c” trong cá, cổ, cốm, + 7 IHI. Trong số 350 trường hơp sai về phu âm đầu có một số lỗi phổ Nhìn vào bang ta thấy sự lẫn lộn s /x có tỉ lệ thấp nhất, tuy nhiên sự lẫn lộn ở đây chi tập trung ở hai con chữ. Tương tự, ở cột tiếp theo sự lẫn lộn giữa d / gi cũng thap.
Còn hai cột tiếp theo tỉ lê lẫn lên có cao hơn, cần thấy ở đây có đế n 3 con chữ, Nhìn chung ở cột s / x hoàn toàn bị chỉ phối bởi cách phat âm địa phương. Tại đây cung cấp cho ta một cứ liệu rấ t lí thú, Bởi vì trước đến nay, khi nói đến sự lẫn lộn này, chủ yếu các tác giả đi trước coi nó như một đặc điểm của Hà Nội, hay ít ra cũng là phươ ng ngữ Bắc Bộ. Nhưng như đã thấy ngày nay sự lin lộn s /x có thể coi là đặc trưng chung cho cả nước, Tiếp theo, trong phất âm ở miễn Nam nói chung, TP.HCM nói riêng không cồn giữ thế đối lập d / gi, đó là chưa kể đến sự lẫn lộn giữa v/ d, Điều đó làm cho sự lẫn lộn giữa v/d /gi và r/d / gi cà ng trở nên phức tạp. Cho nền, trong việc chữa lỗi cho H S có thể vận dụng các mẹo luật về sự phân biệt giữa d / gi để chữa.
Vi du : qui tắc giao tranh cho tdi cấm, túc ng hĩa là đối với một từ Hán Việt khi có sự lẫn lận giữa d / gì ta sẽ viết gì nếu có một chữ khác ng hĩa gẵn giống với chữ đó mà có các phụ âm đâu được viết bằng các con chữ ir, ch, t, ¢ (giành “tranh ; giấu / che ; giã /1q ; giác / cất. Tại trường Trần Hưng Đạo khi cho học sinh viết bài chính tả “Ong tôi” lớp 5, các em có sự nhdm lẫn giữ phụ âm đầu s-x trang trường hợp sã0-xan; sfWng-xương; SBã-xũä. Nguyên nhân chính là khi nói các em đã hỏ mất thói quen nh át âm quật lưỡi nên đọc s thanh x. Mặt khác, các em lại không nhớ quy tắc chính tả (s) không đi với các van bất đầu bằng “oa, oã, oe, tê `, Nhưng “x” thì được như xué xa, xum xuê,.
hoặc tr ong bài : “Thay giáo em” - ở lớp 4, các em không phân biệt được cách phát âm, nhiều học sinh gọi (d) là (dd) hoặc (dê-dê dé). Goi (gi) là (giờ), điểu đó chứng tỏ các em chỉ phân biệt trên co sở chữ viết mà thôi, Ở đãy ta thấy trong phẩn lớn tưởng tượng (d) không di với dấu hỏi và dấu sắc nhưng đi với dấu ngã và dấu nặng. Trái lại, (gi) trong phan lớn tưởng tượng đi với dấu sắc, dấu hỏi, đấu huyển chứ không đi với dấu nặng, dấu ngã. Sự khác nhau này biểu hiện triệt để và cụ thể trong từ Hán Việt, Mặc dù đã được phân biệt so sánh trong giờ chính tả so sá nh ở lớp 4 nhưng khi viết bài “Có một chú chim sâu" - Tiếng Việt lớp 4, các em vẫn không biệt được r/d/gi trong các trường hợp (giá, đá, rá ; Bia, da, ra; gì, di, ri).
Nhiễu em đọc (r) giống như (d, gi) nên mdi không phân biệt được ả các trường hợp nêu trên. + Lấy điên 4m dau chỉ sự cách thức của hành động : rung ray, rung rife, rồn rén,. + Lấy điện âm dau chỉ sắc thai của ánh sáng : (tươ i) roi rói, (chấy) rừng rực, (khuôn mặt) rang rỡ,. - Dang lỗi v/d/gi cũng tưởng từ, Người miền Nam không ph ân biệt được vidigi trong trường hợp : (van-dan-gidn ; vội-dội-giội ; va ng-dang- giảng ;.
Đây là một trong những nhược điểm rất lớ n về mặt phát âm dẫn đến sai lỗi chính tả, Về mặt kết hợp ở trong chữ (v) không thể đứng tr ước các vẫn bắt đầu bằng 0a, 04, ud, oe, ué, uy ngoại trừ một từ ngoại lại là “kho ăn voan”. Chỉ có một trường hợp ngoại lê đó là chữ phiên âm từ tiếng Pháp là VDAH. Trong số 340 lỗi vé van chủ yếu là sai về âm cuối,i, có sư lẫn lôn gilfa (c-t; ac - at) giữa (ng - n ; ang - an) giữa (nh - n; inh - in) giữa (t - ch ¡ thịt - thích), Các lỗi chính tả vé âm phụ cuối trong thực tế chia ra làm ba loại : IV.1/ Âm cuối không phân biệt được vì có sự lẫn lộn nh ưng vẫn khác nhau : (ngat-ngac ; bát-bác) do nguyên âm ch ính đọc khác nhau. Số lỗi này hầu hết ở trường nào cũng có, đặc biết là các em ở quận Goa Vấp.
Khảo sát 100 em thì có tới 78 em phát âm lẫn lộn. Do vay khi viết cũng viết sai./ Lỗi d âm chính là các nguyễn âm đổi như đã nỏi. các nguyên âm đôi trong tiếng thành phố Hồ Chi Minh đều bị nhược hóa hết 1 nguyễn âm, do đó khi viết cũng viết sai. Ví dụ : điệp dip, chiémchién, cánh buổm-*cánh bùm hay cánh bừm, rượu-*ru hay TU, .3/ Lỗi chính tả của tiếng địa phương tao nên hiện tượng đồng âm.
Tình trang không phân biệt giữa (an-ang) khiến cho (lan trong tan rã) nói hệt như (tang trong tang tóc), kết quả là các em đều viết sai vẫn này. Nói là đồng âm chứ không thực là trong khi nói né xoá mất thế đối lập an/ang, do đó khi viết các em cũng viết sai. Tương tự khi nói các em thường đồng nhất hai vẫn uc và ul, do vậy khi viết nước lụt và nước lục là như nhau. Trcá o cn lỗig chính tả thì lỗi về dấu th phải quan tâm đến.
ssw nhận owt sấu no dt ae là một vấn dé Trong các từ lấy âm của tiếng Việt có quy luật bổng và trầm. Thanh hỏi là một thanh thấp (lủng củng) còn thanh ngã là một thanh cao (sạch sẽ). Do không miêu tả được thanh điệu nên các em có sự nhẳm lẫn giữa hai dấu thanh hỏi vả ngã ( rửa-rữa ; sẻ-sẽ ; sổ-sỡ ).