Chương 1: Người kể chuyện và điểm nhìn trong tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam sau năm 1975 Nguyễn Thị Vui – Văn học Việt Nam 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam sau 1975 dưới góc nhìn tự sự học… Điểm đặc biệt đầu tiên của nhân vật người lính trong tiểu thuyết hậu chiến là họ không xuất hiện trong những sự kiện đạn bom ác liệt mà chủ yếu trong trạng thái suy tư, chiêm nghiệm, “sống với thời gian hai chiều”. Người lính trong tiểu thuyết hậu chiến vừa là con người của thời hiện tại, của cuộc sống thường ngày vừa là con người của quá khứ trong nhu cầu nhận thức lại quá khứ ấy. Và thường là thế này: họ cô đơn, lạc lõng trong cuộc sống hiện tại, còn quá khứ tuy đã thành ký ức nhưng luôn là nỗi ám ảnh khôn nguôi, đeo đẳng suốt cuộc đời họ. Hệ quả của nhận thức mới về lịch sử, về hiện thực và con người đã khiến tiểu thuyết hậu chiến dần hướng vào việc khám phá người lính dưới góc độ cá nhân, đời tư.
Sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người đã trở thành hạt nhân của những thành tựu mà tiểu thuyết hậu chiến đóng góp cho văn học Việt Nam hiện đại về đề tài chiến tranh. Khi được hiện lên với tất cả những tính chất đa diện của con người đời thường, hình tượng người lính chân thực, gần gũi và ám ảnh hơn trong chân dung của những nhân vật bi kịch. Tiểu thuyết hậu chiến đã tập trung chú ý đến khía cạnh này của người lính, đặc biệt là bi kịch tinh thần - bi kịch nhận thức của họ trước những phức tạp của cuộc sống mới. Với tiểu thuyết hậu chiến, lần đầu tiên trong văn học chiến tranh, người lính đã được nhìn nhận như một “cá thể người” chứ không phải là hình ảnh biểu trưng cho tập thể, cho cộng đồng: Giang Minh Sài đau khổ, cả đời hối hận vì luôn phải sống theo sự sắp đặt của người khác, phải sống là một người khác chứ không phải là chính con người mình (Thời xa vắng), Hai Hùng cảm thấy mình “bị bắn ra khỏi lề đường” (Ăn mày dĩ vãng), Kiên “bị mắc kẹt lại trên cõi đời này”, cô độc và hoàn toàn rơi vào trạng thái bấn loạn, rối bời, triền miên trong mộng mị, vô thức (Nỗi buồn chiến tranh), v.
Sài, Hai Hùng, Kiên… và nhiều người lính khác nữa trong tiểu thuyết hậu chiến không có được cảm giác hạnh phúc của ngày trở về sau chiến tranh mà luôn sống trong những ám ảnh khôn nguôi. Nguyễn Thị Vui – Văn học Việt Nam 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam sau 1975 dưới góc nhìn tự sự học… Thay đổi cảm hứng nghệ thuật, chuyển từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng đời tư thế sự, tiểu thuyết về chiến tranh sau 1975 mang một diện mạo mới trong cách thể hiện nội dung mới, đặc biệt là phương diện trần thuật, từ ngôn ngữ, giọng điệu đến điểm nhìn, nhân vật trần thuật rồi cả cốt truyện, kết cấu… Trong truyện kể, vấn đề ai kể chuyện và câu chuyện được kể như thế nào bao giờ cũng quan trọng hơn là ai mới thật sự là người viết nên truyện kể ấy. Điểm nhìn trở thành cơ sở để phân biệt người kể chuyện và tác giả. Người kể chuyện có thể mang điểm nhìn của tác giả, song tác giả không phải là trung tâm của truyện kể và không có vai trò đáng kể trong việc tổ chức truyện.
Điểm nhìn và người kể chuyện trở thành hai phương diện không thể tách rời. Truyện bao giờ cũng được kể từ một điểm nhìn nhất định và bởi một người kể chuyện nào đó. Pospelov khẳng định vai trò quan trọng của điểm nhìn trần thuật trong tác phẩm tự sự: “Trong tác phẩm tự sự, điều quan trọng là tương quan giữa các nhân vật với chủ thể trần thuật, hay, nói cách khác, điểm nhìn của người trần thuật đối với những gì mà anh ta miêu tả” [63]. Người kể chuyện trong tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam sau 1975 1.
Khái lược về người kể chuyện Theo Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên thì: trần thuật (Narrate) là phương diện cơ bản của phương thức tự sự, là việc giới thiệu khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của người trần thuật. Trần thuật không chỉ là lời kể mà còn bao hàm cả việc miêu tả đối tượng, phân tích hoàn cảnh, thuật lại tiểu sử nhân vật, lời bình luận, lời ghi chú của tác giả…. Ngôn ngữ trần thuật do vậy là nơi bộc lộ ý thức sử dụng ngôn ngữ có chủ ý của nhà văn, bộc lộ cách lý giải cuộc sống từ cách nhìn riêng và cá tính sáng tạo của tác giả. Nguyễn Thị Vui – Văn học Việt Nam 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam sau 1975 dưới góc nhìn tự sự học… Trần thuật là một phương thức nghệ thuật đặc trưng của tác phẩm tự sự.
Trong tiểu thuyết, trần thuật tập trung vào số phận một hoặc nhiều cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó, sự trần thuật ở đây được triển khai trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt cơ cấu của nhân cách. Với đặc điểm đó, trần thuật trong tiểu thuyết là một phương diện thi pháp đặc trưng của thể loại. Trần thuật tồn tại với nội dung trần thuật và hình thức trần thuật. Người trần thuật (Narrator) - một yếu tố quan trọng trong tiểu thuyết.
Trần thuật bao giờ cũng được tiến hành từ phía một người nào đó. Trong sử thi, cổ tích, truyện ngắn, tiểu thuyết, trực tiếp hay gián tiếp đều có người trần thuật. Người trần thuật không những chỉ tổ chức ngôn ngữ mà còn đóng vai trò quan trọng về mặt kết cấu, chi phối ngôn ngữ của nhân vật. Trong trường hợp tác giả đóng vai trò người trần thuật, tác phẩm có nhân vật kể chuyện ở ngôi thứ nhất (first person), xưng “tôi”.
Điều này dễ nhận thấy ở các tác phẩm tự truyện hoặc có dáng dấp tự truyện. Theo nhà nghiên cứu Lê Nguyên Cẩn, việc sử dụng ngôi thứ nhất trong tự truyện ở các tác phẩm văn học thế kỷ XVIII ở phương Tây không phải là sự sử dụng tùy hứng hay ngẫu nhiên mà nó mang tính lịch sử, gắn liền với nhu cầu khách quan của thời đại. Đó là yêu cầu các truyện phải là truyện kể về sự thật. Tiểu thuyết trở thành bản anh hùng ca đầy tính chủ quan, trong đó tác giả tự cho mình cái quyền được lý giải thế giới ấy theo cách của nó, cái chủ thể chủ quan nổi bật lên thu hút sự chú ý của mọi người.
Đó chính là câu chuyện được viết bởi chính những người đã từng sống trong cuộc đời ấy. Đây là điều kiện để thể loại hồi ức phát triển mạnh, dẫn đến sự xuất hiện của thể loại tự truyện hay dấu ấn của tự truyện trong tiểu thuyết. Ngoài ra tác giả còn trần thuật ở ngôi thứ ba dưới hình thức người kể chuyện (do tác giả sáng tạo ra), lời trần thuật ở đây mang tính khách quan hoá Nguyễn Thị Vui – Văn học Việt Nam 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam sau 1975 dưới góc nhìn tự sự học… và trung tính. Người trần thuật được chứng kiến câu chuyện và có khả năng kể lại toàn bộ câu chuyện theo cách riêng của mình.
Lời trần thuật ở đây còn có nhiệm vụ tái hiện và phân tích, lý giải thế giới khách quan, vật chất, sự việc, con người…; tái hiện và phân tích, lý giải lời nói ý thức người khác. Theo Bakhtin, lời văn trần thuật gián tiếp này (khác với lời văn trực tiếp của nhân vật) có thể chia làm hai loại: loại thứ nhất là gián tiếp một giọng, là lời trần thuật tái hiện, phẩm bình các hiện tượng của thế giới trong ý nghĩ khách quan vốn có của chúng. Loại thứ hai là lời gián tiếp hai giọng, là lời trần thuật có hấp thụ lời nhân vật, tức là trong phát ngôn của người trần thuật cùng lúc có thể có cả lời trực tiếp hay những suy tư gián tiếp của nhân vật, nó thể hiện sự đối thoại với ý thức khác của cùng một đối tượng miêu tả. Loại thứ hai này cho phép tác giả di chuyển “điểm nhìn” trần thuật và tạo nên tính chất đa thanh trong ngôn ngữ trần thuật, ngôn ngữ tiểu thuyết.
Sự đa dạng về người kể chuyện trong tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam sau 1975 Ở Việt Nam, tiểu thuyết có nhân vật trần thuật ở ngôi thứ nhất xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX. Đó là tiểu thuyết “Truyện Thầy Lazaro Phiền" (1887) của Nguyễn Trọng Quản. Tác phẩm có hình thức “truyện trong truyện.” Thầy Lazaro Phiền đã thú nhận tội lỗi giết vợ, giết bạn của mình cho một người bạn đồng hành và nhân vật này lại trở thành người trần thuật. Nhân vật người kể chuyện ở đây được thể hiện ở ngôi thứ nhất.
Trong văn chương đương đại từ sau Đổi mới (1986) có nhiều tác giả trần thuật ở ngôi thứ nhất như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài…. Với việc trần thuật ở ngôi thứ nhất, tác giả đã viết về những điều mình đã trải qua, đã chứng kiến và nếm trải, chiêm nghiệm. Và tất nhiên, với tính chất hư cấu của tiểu thyết, “tôi” không hẳn là tác giả mà chỉ là một nhân vật của truyện. Lời trần thuật ở đây Nguyễn Thị Vui – Văn học Việt Nam 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam sau 1975 dưới góc nhìn tự sự học… vừa là ngôn ngữ trần thuật của tác giả vừa là ngôn ngữ trần thuật của nhân vật, tức vừa là lời trực tiếp, vừa là lời gián tiếp (của nhân vật).
Thông thường, trần thuật từ ngôi thứ nhất diễn ra khi có một nhân vật tôi đóng vai trò kể chuyện từ đầu đến cuối. Tuy vậy, phương thức trần thuật với một cái tôi duy nhất này dễ khiến việc kể chuyện trở nên đơn điệu. Để tránh lối kể chuyện từ một điểm nhìn, tiểu thuyết Việt Nam đương đại đã tìm cách làm mới hơn phương thức trần thuật từ ngôi thứ nhất. Trong nhiều tác phẩm, câu chuyện không chỉ được kể bởi một nhân vật tôi, mà có nhiều vai ở ngôi thứ nhất kể những chuyện khác nhau từ những điểm nhìn khác nhau.
Ăn mày dĩ vãng được kể ở ngôi thứ nhất. Người kể chuyện là tác giả, đồng thời là nhân vật chính trong truyện – Hai Hùng.