CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG VÀ TIỂU THUYẾT NGÔN TÌNH TRUNG QUỐC 1. Vài nét về văn hóa đại chúng Ngày nay, thuật ngữ “văn hóa đại chúng” (Mass culture/ Popular culture) đang dần trở nên phổ biến ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới, nó có mối quan hệ mật thiết với sự phát triển của văn hóa toàn cầu nói chung và văn hóa của mỗi quốc gia nói riêng. “Văn hóa đại chúng là thuật ngữ có nội hàm khá rộng, bao gồm tổng thể các ý tưởng, quan điểm, thái độ, hành vi lan truyền (meme), hình ảnh và các hiện tượng khác, những gì được cho có sự đồng tình một cách phổ biến nhưng không tuân theo một thủ tục quy định của một nền tư tưởng văn hóa nhất định.”1 “Văn hóa đại chúng” hình thành và phát triển ở phương Tây từ đầu thế kỷ XX và có xu hướng lan rộng ra toàn cầu vào cuối thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI. “Văn hóa đại chúng” là văn hóa của đa số người trong xã hội.
“Đại chúng” (popular) trong thuật ngữ này có vai trò quan trọng tạo nên sự khác biệt trong thế đối cực so với văn hóa bác học hay văn hóa tinh hoa. “Đại chúng” được hiểu là phần lớn người dân trong xã hội. Trong bối cảnh đi lên của xã hội loài người, khi vấn đề bình đẳng, dân chủ của con người trở thành mối quan tâm hàng đầu, thì trong văn hóa vấn đề “đại chúng” lại ngày càng thể hiện rõ vai trò của nó. “Đại chúng hóa” văn hóa có thể được hiểu như một kiểu dân chủ trong văn hóa, ở đây “văn hóa đại chúng” sẽ mang tính tự do, cấp tiến hơn so với văn hóa tinh hoa, hàn lâm hay bác học.
Theo Tiến sĩ Nghệ thuật học người Nga Kirill Razlogov, “văn hoá đại chúng” thường được định nghĩa như là những sản phẩm văn hoá (theo nghĩa rộng nhất, bao gồm các tác phẩm nghệ thuật, hàng tiêu dùng và nghệ thuật ẩm thực) được các chuyên gia sáng tạo và phổ biến với quan điểm cho rằng trên nền tảng thương mại, đông đảo dân chúng không phân biệt địa vị xã hội, giới tính, tuổi tác, quốc tịch, v. sẽ sử dụng nó. “Văn hoá đại chúng” khác với văn hoá dân gian. và nó chuẩn bị cho thế giới tiếp nhận một nền văn hoá toàn cầu, tức một nền văn hoá sẽ bao quát toàn cầu ở cấp độ lý tưởng.
Theo Lê Minh Kha trong Lý thuyết văn hoá và văn hoá đại chúng (Cultural Theory and Popular Culture – John Storey) đã đưa ra 6 định nghĩa khác nhau về văn hoá đại chúng. Trong số đó, nếu xác định bằng cách đối sánh với nền văn hoá cao cấp (high culture), “văn hoá đại chúng” được xem là những gì “sót lại” (left over) sau khi đã xác định đâu là văn hoá cao cấp; nếu nhìn từ quan điểm Tây Âu, “văn hoá đại chúng” là nền văn hoá mang tính thương mại sản xuất đại trà cho tiêu thụ đại trà, gắn liền với văn hoá Mỹ; quan điểm của chủ nghĩa hậu hiện đại xem “văn hoá đại chúng” 1 Trích nguồn: https://vi.org/wiki/V%C4%83n_ho%C3%A1_%C4%91%E1%BA%A1i_ch%C3%BAng. 9 như một phản ứng, không thừa nhận ranh giới, sự khác biệt giữa “văn hoá cao cấp” và “văn hoá bình dân”. Học giả Jim Cullen, qua lời giới thiệu cho cuốn Bách khoa thư văn hoá đại chúng của St.James Encyclopedia of Popular Culture) đã gọi văn hoá đại chúng là “nghệ thuật của đời sống thường nhật” (The Art of Everyday Life).
Cũng trong lời giới thiệu này, ông dẫn lời của nhà nghiên cứu lịch sử văn hoá Lawrence Levine, xem văn hoá đại chúng là “nền văn hoá dân gian của xã hội công nghiệp” (the folklore of industrial society). Trong bài viết “Văn hóa thời gian rỗi và văn hóa đại chúng” của PGS.TS Phan Thị Thu Hiền có đề cập đến khái niệm “văn hóa đại chúng” của Raymond Williams. Theo Raymond Williams (1921-1988) “văn hóa đại chúng” gồm có 4 nghĩa : Văn hóa đại chúng bao gồm những hiện tượng, sản phẩm/ dịch vụ văn hóa được nhiều người ưa thích. Văn hóa đại chúng là hình thức văn hóa thấp hơn của đa số quần chúng phân biệt với văn hóa cao hơn của thiểu số tinh hoa.
Văn hóa đại chúng bao gồm những sản phẩm/ dịch vụ văn hóa người ta chủ ý tạo ra (thường gắn với công nghiệp văn hóa, sản xuất hàng loạt) nhằm thỏa mãn thị hiếu của số đông. Văn hóa đại chúng bao gồm những sản phẩm/ dịch vụ văn hóa mà những nhóm xã hội (nhất là những nhóm thiểu số) tự tạo nên để đáp ứng cho những nhu cầu đặc thù của riêng họ (vốn không được văn hóa thống lĩnh thừa nhận quan tâm). Thêm một hướng tiếp cận khác, theo John Hartley “văn hóa đại chúng” (popular culture) là văn hóa chung của con người (of people in general), dành cho con người (for people in general) và nói chung là được con người ưa thích (well liked by people in general). Tuy nhiên, bên trong định ngữ “popular” (đại chúng) lại mang hơi hướng tiêu cực, ẩn chứa một thái độ kỳ thị không rõ ràng.
Trong bối cảnh giao tiếp thông thường, “popular” (được nhiều người ưa chuộng) thường được hiểu tương đồng với nghĩa của “good” (tốt) mang sắc thái tích cực. Nhưng về bản chất từ nguyên, “popular” không mang sắc thái tiêu cực và cách hiểu trên đã đi ngược lại ý nghĩa ban đầu của nó. Nguyên khởi, “popular” được dùng để phân biệt số lượng người giữa số đông người bình dân (chứ không phải chỉ con người nói chung) với những người có tước vị, quý tộc, giàu có hay có giáo dục (the titled, wealthy or educated classes). Sau đấy “popular” lại được hiểu tương đồng với các từ mang sắc thái tiêu cực, ngụ ý miệt thị như gross, base, vile, riffraff, common, low, vulgar, plebein hay cheap.
Như vậy “popular” vốn là thuật ngữ vấp phải khá nhiều tranh luận, tuy nhiên từ lịch sử hình thành, “popular” đã trở thành một thuật ngữ đa nghĩa với khuynh hướng trọng tâm là: Sự phổ biến của một thứ gì đó, tức mang tính đại chúng, được đánh giá tích cực hay 10 tiêu cực phụ thuộc vào định hướng để hiểu “the people” (con người) của mỗi người. Tính đại chúng/ phổ biến của các phương tiện truyền thông đại chúng (mass media) tạo ra cách hiểu mơ hồ và lại khiến lặp lại các cuộc tranh luận về cái gọi là “phổ biến là tốt hay xấu” trong cả giới học thuật lẫn công chúng. Cụ thể là các sản phẩm truyền thông là “tốt vì chúng phổ biến” hay “xấu vì chúng phổ biến”.[4; Tr 12] “Văn hóa đại chúng” ngày càng đóng vai trò quan trọng trong xã hội hiện đại. Không thể phủ nhận vai trò của văn hoá đại chúng trong việc truyền tải các giá trị văn hóa cốt lõi của xã hội, nâng cao dân trí của người dân thông qua giải trí.
Văn hóa đại chúng góp phần đánh giá dân trí, thị hiếu chung của một tầng lớp công chúng nhất định. Tuy nhiên, sau cùng của những tranh luận, văn hóa đại chúng được biết đến là thứ văn hóa còn lại của một sự xác định rõ ràng “văn hóa tinh hoa” (high culture), khi các sản phẩm văn hóa không đạt được quy chuẩn hạn định của “văn hóa tinh hoa”, nó trở thành “văn hóa đại chúng”. Nói cách khác, “văn hóa đại chúng” được ngầm định là loại văn hóa cấp thấp (đối cực với “high culture”) phù hợp với thị hiếu phổ thông của công chúng. Bề nổi của “văn hóa đại chúng” tồn tại ngày nay trên toàn cầu có thể kể đến là hiện tượng thống trị của các trào lưu văn hóa như phim truyền hình Mỹ, thức ăn nhanh McDonald, nước uống Coca-Cola, bánh pizza Italia, xì gà la Habana, yoga Ấn Độ, thời trang Italia, món ăn Nhật Bản hay Trung Hoa, phim truyền hình Hàn Quốc, thời trang và món ăn Hàn.
Ở nhiều quốc gia, nhờ vào tính giải trí cao, “văn hóa đại chúng” trở thành đối tượng được khai thác giá trị thương mại rất hữu hiệu, là công cụ kiếm tiền cho các doanh nghiệp, tập đoàn, quốc gia và cả khu vực, vì vậy có thể thấy ở các nước này, “văn hóa đại chúng” rất phát triển. Chính nhờ những lợi ích mang lại từ các sản phẩm văn hóa đại chúng, cho nên “văn hóa đại chúng” ngày càng được ưu tiên đầu tư phát triển mạnh. Một trong những cách phát triển “văn hóa đại chúng” là việc gắn chặt nó với các phương tiện truyền thông đại chúng. Ở khía cạnh khách quan, “văn hóa đại chúng” và các phương tiện truyền thông đại chúng có quan hệ tương tác, phụ thuộc vào nhau để tồn tại.
Các sản phẩm văn hóa đại chúng được sản xuất hàng loạt để tiêu thụ thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng. Đây là dấu hiệu đặc trưng của “văn hóa đại chúng”. Có nhiều loại phương tiện truyền thông đại chúng khác nhau hỗ trợ cho sự tồn tại của các sản phẩm này, nhưng phổ biến nhất là phát thanh, báo chí, truyền hình và đỉnh cao là internet. Như vậy, “văn hóa đại chúng” có thể được hiểu là tổng thể các sản phẩm văn hóa có khả năng thỏa mãn thị hiếu của đại đa số dân chúng.
Các sản phẩm văn hóa đại chúng bao gồm phim ảnh, âm nhạc, văn học, thời trang. Ở đây việc tiếp nhận các sản phẩm văn hóa này là tự nguyện từ phía công chúng. “Văn hóa đại chúng” phải đáp ứng được hai tiêu chí cơ bản là: hiệu quả tiêu thụ sản phẩm văn hóa và thị hiếu của đại 11 chúng. Từ đây văn hóa đại chúng nổi lên hai đặc tính rõ rệt là “thương mại” và “giải trí”.
Tiểu thuyết ngôn tình Trung Quốc dưới góc nhìn văn hóa đại chúng Những năm gần đây “văn hóa đại chúng” đã ảnh hưởng không nhỏ đến Việt Nam. Nói về nền “văn hóa đại chúng” du nhập vào Việt Nam không thể không kể đến hiện tượng văn hóa đại chúng Mỹ, Hàn Quốc, Đài Loan,.Một trong những điều cho thấy sự du nhập của “văn hóa đại chúng” phương Tây vào Việt Nam là lễ hội Halloween. Halloween là một lễ kỷ niệm ở một số quốc gia phương Tây, diễn ra vào ngày 31 tháng 10 hằng năm. Lễ hội này được du nhập vào Việt Nam và được nhiều bạn trẻ hưởng ứng.
Bên cạnh đó, văn hóa phương Đông cũng dần xâm nhập vào thị trường nước ta, cụ thể là làn sóng Hallyu (Hàn lưu) xuất hiện trong gần 19 năm trở lại đây (kể từ khi bộ phim truyền hình dài tập Hoa cúc vàng của Hàn Quốc được chiếu trên Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1997).