phần Mở đầu, Kết luận, luận văn gồm 03 chương: 6 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC TIẾP CẬN VĂN HÓA TRONG QUẢN LÝ NHÂN LỰC KH & CN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khoa học và Công nghệ 1. Khái niệm Khoa học Trong khoa học luận, khoa học là một hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy. Nếu như tri thức chỉ là các yếu tố ngẫu nhiên trong đời sống hàng ngày thì tri thức khoa học sẽ được tích luỹ qua nghiên cứu khoa học và tổng kết những tập hợp số liệu và sự kiện ngẫu nhiên, rời rạc khái quát thành cơ sở lý thuyết về mối quan hệ bản chất.
Từ góc độ triết học Mác, khoa học cũng được hiểu là một hình thái ý thức xã hội. Theo đó, khoa học tồn tại mang tính độc lập tương đối với các hình thái ý thức xã hội khác. Đây rõ ràng là một cơ sở lý luận có ý ngh a quan trọng trong khái niệm nghiên cứu khoa học, từ đó xử lý mối quan hệ phức tạp giữa khoa học với các hình thái ý thức xã hội khác nhau. Khoa học có khả năng làm xuất hiện những “dị biệt” hình thái ý thức xã hội khác.
Như vậy, người nghiên cứu và người sử dụng kết quả nghiên cứu cần phải xem xét mối quan hệ này. Hình thái ý thức xã hội bao gồm: chính trị, pháp luật và đạo đức. Ở một góc độ khác, khoa học là một hoạt động xã hội. Ngày nay, khoa học đã trở thành một hoạt động nghề nghiệp của cộng đồng xã hội.
Hoạt động khoa học có đ c điểm khó tìm thấy trong những l nh vực hoạt động xã hội khác, tìm kiếm những điều chưa biết và phải chịu trách nhiệm rủi ro trong quá trình tìm kiếm. Nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi sáng tạo/khám phá bản chất của sự vật và hiện tượng theo mục đích sử dụng. Theo đó, mục đích của nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội nhằm thoả mãn nhu cầu nhận thức thế giới và cải tạo thế giới. 7 Là một hoạt động xã hội, khoa học sẽ bao gồm các đ c điểm: tính mới, tính tin cậy, tính thông tin, tính khách quan, tính rủi ro, tính kế thừa, tính cá nhân và tính phi kinh tế.
Khái niệm Công nghệ Các tổ chức quốc tế đưa ra các định ngh a về công nghệ khác nhau: Tổ chức UNCTAD (1972) khái niệm: “Công nghệ là một đầu vào cần thiết cho sản xuất và như vậy nó được mua bán trên thị trường như một hàng hoá. Tổ chức PRODEC (1982) cho rằng, “Công nghệ là một loại kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp được sử dụng trong sản xuất công nghiệp, chế biến và dịch vụ”. Ngân hàng thế giới (1985) đưa ra định ngh a: “Công nghệ là một phương pháp chuyển hoá các nguồn lực thành sản phẩm, gồm 3 yếu tố: Thông tin về phương pháp; phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp để thực hiện việc chuyển hoá; sự hiểu biết phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao”. Tổ chức OECD cũng đưa ra một định ngh a chung: “Công nghệ là một tập hợp các kỹ thuật, mà bản thân chúng được định ngh a là một tập hợp các hành động và quy tắc lựa chọn chỉ dẫn việc ứng dựng có trình tự các kỹ thuật đó mà theo hiểu hiểu của con người thì sẽ đạt được một kết quả định trước trong một hoàn cảnh nhất định.” Tại Việt Nam, tác giả Trần Ngọc Ca đã đưa ra một số khái niệm về công nghệ: “Công nghệ có thể được hiểu như mọi loại hình kiến thức, thông tin, bí quyết, phương pháp được lưu giữ dưới các dạng khác nhau và mọi loại hình thiết bị, công cụ, tư liệu sản xuất và một số tiềm năng khác được áp dụng vào môi trường thực tế để tạo ra các loại sản phẩm và dịch vụ.” Luật Khoa học và Công nghệ của Việt Nam (2000) cũng đưa ra định ngh a công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm.
8 Luật chuyển giao công nghệ (2006) cũng có nêu: Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm ho c không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm. Trong nghiên cứu của tác giả Vũ Cao Đàm: Một số vấn đề quản lý khoa học và công nghệ ở nước ta, tác giả dựa trên một số tiếp cận khác nhau và tổng quan định ngh a như sau: - Công nghệ là một chuỗi các thao tác kỹ thuật, được thực hiện theo một trình tự nghiêm ng t, có liên hệ logic của quá trình chế biến vật chất ho c thông tin. - Công nghệ là một phương tiện, bao gồm phần cứng của công nghệ và phần mềm của công nghệ. - Công nghệ là một hệ thống trí thức về quá trình chế biến vật chất và/ho c thông tin.
- Khái niệm 4 thành tố cấu thành nên khái niệm “công nghệ” dựa theo nghiên cứu của Naware Sharif: phần kỹ thuật, phần thông tin, phần con người và phần tổ chức. Hoạt động Khoa học và Công nghệ Tổ chức UNESCO từ những thập niên 1970 đã đưa ra thuật ngữ khoa học và công nghệ trong các văn kiện chinhs ách KH&CN. Hoạt động KH&CN có thể bao gồm một số nội dung sau: - Hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D). Trong nền kinh tế thị trường, loại hoạt động này được thực hiện trước hết trong các trường đại học, các doanh nghiệp và các viện nghiên cứu độc lập; - Hoạt động phát triển công nghệ, bao gồm mở rộng công nghệ, nâng cấp công nghệ và đổi mới công nghệ; - Hoạt động dịch vụ KH&CN.1: Hoạt động Khoa học và Công nghệ R&D Chuyển giao Phát triển công nghệ công nghệ (Technology Development) (Technology Transfer) R D Nghiên Triển khai Nâng cấp cứu (Experimental Mở rộng công nghệ (Research) Development) công nghệ (Intensive Chuyển Chuyển (Extensive Development Sản giao giao Development of xuất dọc ngang Chế tác Làm of Technology/ thử Prototype Pilot Technology) Upgrading of loạt Technology) “0: Dịch vụ Khoa học và Công nghệ (Science and Technology Service) Hoạt động Khoa học và Công nghệ (theo UNESCO) 1.
Quản lý nhân lực KH&CN 1. Khái niệm nhân lực KH&CN Thuật ngữ nguồn nhân lực Khoa học và công nghệ (KH&CN) hàm chỉ nguồn lao động có trình độ đào tạo cao trở lên. Tại Việt Nam, hiện nay, chưa có ban hành chính thức các khái niệm chung của quốc gia về đối tượng nhân lực KH&CN. Trên cơ sở nghiên cứu, so sánh nội hàm các khái niệm về nhân lực KH&CN của các tổ chức quốc tế như UNESCO, OECD thì khái niệm về nguồn nhân lực hoạt động KH&CN được đề xuất đối với Việt Nam.
Các khái niệm được đề xuất này có khả năng hỗ trợ thiết thực cho các nghiên cứu về nguồn nhân lực KH&CN đồng thời hỗ trợ căn cứ khoa học và thực tiễn để có 10 thể phân tích, so sánh tương quan nhân lực KH&CN chất lượng cao của Việt Nam với các nước trong khu vực và thế giới. Trên bình diện quốc tế, có 2 cách tiếp cận phổ biến về nhân lực khoa học và công nghệ (KH&CN): Thứ nhất, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) định ngh a nhân lực KH&CN đáp ứng được một trong những điều kiện sau đây: - Đã tốt nghiệp đại học ho c cao đẳng về một l nh vực KH&CN1; - Tuy chưa đạt được điều kiện nêu trên, nhưng làm việc trong một l nh vực KH&CN đòi hỏi phải có trình độ tương đương. Kỹ năng tay nghề ở đây được đào tạo tại nơi làm việc. Như vậy, “Nguồn nhân lực KH&CN” (viết tắt HRST) bao gồm nhân lực: (1) Ho c có trình độ cao đẳng trở lên (gọi tắt là trình độ bậc 5-8) (2) ho c làm một nghề thuộc chuyên ngành KH&CN đòi hỏi trình độ tương đương cao đẳng trở lên (gọi tắt là “nghề thuộc HRST).
Ở cách hiểu này, nhân lực khoa học và công nghệ phản ánh trình độ học vấn và tiềm năng nghiên cứu của một quốc gia, không xem xét đến vị trí công việc và hoạt động của nhân lực (xem xét nhân lực có tham gia các hoạt động nghiên cứu và phát triển hay không). Thứ hai, khái niệm UNESCO định ngh a nhân lực Khoa học và công nghệ là “Tổng nhân lực có trình độ chuyên môn” (The total stock of qualified manpower). Nhân lực KH&CN là những người trực tiếp tham gia vào hoạt động KH&CN trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của họ, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực phù hợp. Trong đó, “các nhà khoa học và kỹ sư” hay “kỹ thuật viên” được định ngh a như sau: 1 Tốt nghiệp CĐ, ĐH ở đây tương đương với hoàn thành giáo dục mức độ thứ ba trong một l nh vực KH&CN (loại 5,6 và 7 theo phân loại giáo dục quốc tế - ISCED).
11 (1) Nhà khoa học và kỹ sư là người có năng lực phù hợp tham gia trực tiếp vào hoạt động KH&CN nhằm tạo ra những tri thức, sản phẩm và quy trình mới, tạo ra phương pháp và hệ thống mới. Người có năng lực phù hợp là người có thể đạt được một trong 3 tiêu chí sau: - Có trình độ đại học trở lên (tương ứng với trình độ từ bậc 6 trở lên theo phân loại quốc tế về giáo dục và đào tạo – Bảng 1.2) - Có trình độ học vấn ho c đạt được trình độ chuyên môn mà được công nhân tương đương một trong hai tiêu chí ở trên. (2) Kỹ thuật viên là người tham gia hoạt động KH&CN và có trình độ trung cao chuyên nghiệp ho c trung cấp nghề hoạc trung cấp chuyên nghiệp trở lên. Kỹ thuật viên là người thoả mãn một trong 3 tiêu chí sau: - Tốt nghiệp trung học phổ thông (bậc 3 – Bảng 1.2) và sau đó được đào tạo 1-2 năm chuyên về kỹ thuật; - Tốt nghiệp trung học cơ sở (bậc 2 – Bảng 1.2) và được đào tạo về kỹ thuật ho c nghề ít nhất 03 năm; - Được đào tạo tại chức ho c tự có được trình độ chuyên môn được công nhận tương đương với một trong hai tiêu chí nêu trên.2: Phân loại bậc, trình độ giáo dục của ISCED 2011 và cấp học tương ứng của Việt Nam Bậc ISCED 2011 (UNESCO) Cấp học tƣơng ứng của Việt Nam 0.1 Nhà trẻ Giáo dục mầm non 0.