phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được kết cấu của đề tài gồm 3 Chương: 9 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận hung về tiếp ận và xử lý thông tin chính sách bảo hiểm y tế ủ nh o Chƣơng 2: Thự trạng tiếp ận và xử lý thông tin chính sách bảo hiểm y tế ủ nh o hiện n Chƣơng 3: Những vấn đề đặt ra và giải ph p n ng o hiệu quả việ tiếp ận thông tin bảo hiểm y tế đối với nh o 10 Chƣơng CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TIẾP CẬN V L TH NG TIN CH NH SÁCH BH NG TIN CH NH SÁCH B VỀ T 1. Thông tin Trong lịch sử tồn tại và phát triển của mình, con người thường xuyên cần đến thông tin. Ngày nay, với sự b ng nổ thông tin, thông tin càng trở thành một trong nh ng nhu cầu sống còn của con người và khái niệm thông tin đang trở thành khái niệm cơ bản, chung của nhiều lĩnh vực khoa học. Theo Từ điển tiếng Việt, thông tin là “truyền tin cho nhau để biết” động từ , “điều được truyền đi cho biết, từ truyền đi nói khái quát ” [42, tr.
Khái niệm thông tin information được sử dụng thường ngày. Con người có nhu cầu đọc báo, nghe đài, xem truyền hình, đi tham quan, du lịch, tham khảo ý kiến người khác. để nhận được thông tin mới. Thông tin mang lại cho con người sự hiểu biết, nhận thức tốt hơn về nh ng đối tượng trong đời sống xã hội, trong thiên nhiên.
giúp cho họ thực hiện hợp lý công việc cần làm để đạt tới mục đích một cách tốt nhất. Giải thích về thuật ng information, hai tác giả Philipppe, Serge Proulx, trong cuốn “ ng nổ truyền thông: Sự ra đời một ý thức hệ mới” cho rằng: Từ Latin “Informatio”, gốc của từ hiện đại “information” thông tin có hai nghĩa. Một, nó chỉ một hành động rất cụ thể là tạo ra một hình dạng forme. Hai, tuỳ theo tình huống, nó có nghĩa là sự truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm hay một biểu tượng.
Tuy nhiên c ng với sự phát triển của xã hội, khái niệm thông tin cũng phát triển theo. Trong lịch sử báo chí, lần đầu tiên thông tin được con người chú ý nghiên cứu về m t ý nghĩa xã hội của nó và được đề cập đến trong lý thuyết báo chí vào nh ng năm 20 - 30 của thế k XX. Theo cách hiểu kinh điển thì “Thông tin 11 chính là nh ng cái mới khác với nh ng điều đã biết”. Prôkhôrốp cuốn “Cơ sở lý luận của báo chí”, ấn hành năm 2001 thì: “Từ “thông tin” trong ngành báo chí cũng được sử dụng theo nhiều nghĩa, từ lâu nó đã được d ng trong ba nghĩa có quan hệ mật thiết với nhau: Đó là các thông báo ngắn không bình chú về các tin tức nóng hổi của đời sống trong nước và quốc tế; Là danh mục nhóm thể loại tin tức các loại hình thông tin: tin ngắn, báo cáo, tường thuật, phỏng vấn ; Cuối c ng,“thông tin” đôi khi được hiểu là thể loại tin ngắn [10, tr.
Trên quan điểm triết học: Thông tin là sự phản ánh của tự nhiên và xã hội thế giới vật chất bằng ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh v.hay nói rộng hơn bằng tất cả các phương tiện tác động lên giác quan của con người. Trong đời sống con người, nhu cầu thông tin là một nhu cầu rất cơ bản. Nhu cầu đó không ngừng tăng lên c ng với sự gia tăng các mối quan hệ trong xã hội. Mỗi người sử dụng thông tin lại tạo ra thông tin mới.
Các thông tin đó lại được truyền cho người khác trong quá trình thảo luận, truyền đạt mệnh lệnh, trong thư từ và tài liệu, ho c qua các phương tiện truyền thông khác. Thông tin được tổ chức tuân theo một số quan hệ logic nhất định, trở thành một bộ phận của tri thức, đòi hỏi phải được khai thác và nghiên cứu một cách hệ thống. Trong hoạt động của con người thông tin được thể hiện qua nhiều hình thức đa dạng và phong phú như: con số, ch viết, âm thanh, hình ảnh v. Ngày nay, thuật ng "thông tin" information được sử dụng khá phổ biến.
Thông tin được lưu tr trên nhiều dạng vật liệu khác nhau như được khắc trên đá, được ghi lại trên giấy, trên bìa, trên băng từ, đĩa từ. Và con người có thể thu thập thông tin bằng nhiều cách khác nhau: đọc báo, nghe đài, xem truyền hình, giao tiếp với người khác. Có thể khái quát thông tin chính là tất cả nh ng gì mang lại hiểu biết cho con người. Thông tin làm tăng hiểu biết của con người, là nguồn gốc của nhận thức và là cơ sở của quyết định.
12 Trong hoạt động báo chí, “thông tin” trở thành “cầu nối” gi a báo chí và công chúng. Thông tin báo chí cũng được hiểu theo hai nghĩa: Hiểu theo nghĩa là một danh từ, thông tin là tri thức, tư tưởng do nhà báo tái tạo và sáng tạo từ hiện thực cuộc sống. Tất cả nh ng vấn đề, sự kiện, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội được báo chí phản ánh nhằm phục vụ nhu cầu tìm hiểu, khám phá của con người. Thông tin trong thực tiễn báo chí có nhiều dạng khác nhau: có khi chỉ là cái tin vắn, tin ngắn, bài bình luận, phóng sự, phỏng vấn; có khi là một chương trình phát thanh, truyền hình.
Ngay cả các tiêu đề, vị trí của tác phẩm trên các cột báo, giọng đọc của phát thanh viên, các cỡ ch hay cách xếp ch trên các tờ báo… đều chứa đựng thông tin Hiểu theo nghĩa là một động từ, thông tin có nghĩa là thông báo tin tức. áo chí thông tin tới công chúng tất cả các vấn đề, sự kiện của đời sống xã hội, đáp ứng nhu cầu khám phá, tìm hiểu thế giới tự nhiên, xã hội của công chúng. Trong một thế giới hiện thực chứa đầy lượng thông tin, báo chí có cách riêng của mình để phản ánh hiện thực với mục đích tác động tới nhiều tầng lớp xã hội với nh ng mối quan tâm, sở thích và nhu cầu khác nhau. Chính điều đó đã khiến cho báo chí trở thành một hoạt động thông tin đại chúng rộng rãi và năng động nhất mà không một hình thái ý thức xã hội nào có được.
Như vthethuư vtheo nghĩa là một động từ, thông tin có nự việc, hiện tượng của thế giới khách quan và các hoạt động của con người trong đời sống xã hội. trong cuộc sống hàng ngày có vô vàn hoạt động khác nhau, nhưng không phhư mư vtheo nghĩa là một động từ, thông tin có nự việc, hiện tượng của thế giới kháchuật ng chỉ nh ng thông tin mới, thời sự, hấp dẫn, khách quan, trung thực, được nhiều người quan tâm và liên quan đến lợi ích số đông của công chúng. Tiếp ận và xử lý thông tin ủa nhà o - Tiếp cận thông tin 13 Khi tiếp cận với các khái niệm trên thế giới về tiếp cận thông tin hầu hết các khái niệm đều đề cập một cách trực tiếp và ghi nhận đó là một quyền pháp lý, là một trong nh ng quyền hợp pháp và quan trọng của con người. Nội dung các khái niệm cũng đồng thời đề cập đến sự tiếp cận một loại thông tin - thông tin nhà nước đang nắm gi , mà ít đề cập đến việc tiếp cận các loại thông tin khác.
Trong khoa học pháp lý quốc tế hiện nay cũng như trong thực tiễn ban hành và thực hiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin, dường như không có nhiều sự tranh luận về khái niệm quyền tiếp cận thông tin m c d , về tên gọi, quyền này có thể được thể hiện trong các văn kiện pháp lý quốc tế cũng như quốc gia không hoàn toàn giống nhau. quyền tiếp cận thông tin của công dân được xem x t theo nh ng khía cạnh sau: Quyền tiếp cận thông tin của công dân là khả năng xử sự và lựa chọn xử sự của công dân trong nh ng điều kiện cụ thể được pháp luật quy định nhằm có được thông tin mà các cơ quan nhà nước đang nắm gi , quyền tiếp cận thông tin của công dân có nh ng biểu hiện sau: (1) công dân có quyền được tiếp nhận thông tin từ các cơ quan nhà nước ho c có quyền tìm kiếm thông tin để thực hiện quyền chủ thể của mình; 2 công dân có khả năng yêu cầu các chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin thực hiện nghĩa vụ phải cung cấp thông tin khi có yêu cầu ho c yêu cầu họ chấm dứt các hành vi cản trở như từ chối cung cấp thông tin nhằm đáp ứng quyền được có các thông tin nhà nước của mình; 3 công dân có khả năng yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền can thiệp ho c áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết để bảo vệ quyền của mình khi bị vi phạm như trường hợp quyền khiếu nại, khởi kiện khi việc cản trở cung cấp thông tin gây thiệt hại cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trong khi đó, một số nhà khoa học đưa ra định nghĩa quyền tiếp cận thông tin là quyền của công dân được tiếp cận với các thông tin được nhà nước nắm gi thông qua việc đưa ra yêu cầu và nhà nước có nghĩa vụ thực hiện việc 14 cung cấp thông tin này trừ trường hợp pháp luật có quy định khác về việc miễn trừ nghĩa vụ cung cấp thông tin. Ho c trong báo cáo năm 1998 và 2000, Đ c phái viên của Liên hợp quốc về Tự do ý kiến và ngôn luận cũng đã khẳng định rằng quyền tiếp cận thông tin là một quyền con người độc lập nằm trong ngoại diên của tự do ngôn luận được các văn kiện quốc tế về quyền con người bảo hộ.
quyền tiếp cận thông tin quy định nghĩa vụ của nhà nước phải bảo đảm cho tất cả mọi người được tiếp cận các nguồn thông tin mà trước tiên là thông tin do chính bản thân các cơ quan nhà nước đang nắm gi ho c quản lý dưới hình thức này hay hình thức khác. Quyền tiếp cận thông tin của công dân chỉ được thực hiện trong mối tương tác của việc thực hiện quyền và nghĩa vụ gi a một bên là nhà nước, một bên là người dân và gắn liền với trách nhiệm bảo đảm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Người dân có quyền yêu cầu được tiếp cận thông tin nào đó do các cơ quan nhà nước đang nắm gi và các cơ quan nhà nước có nghĩa vụ phải đáp ứng các yêu cầu đó.