Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của sự tiếp xúc ngôn ngữ Ê đê – Việt ở tỉnh Dak Lăk Trong chương này chúng tôi trình bày những cơ sở lí luận (hiện tượng tiếp xúc ngôn ngữ và hiện tượng vay mượn từ vựng) và cơ sở thực tiễn (vài nét giới thiệu về người Ê đê, tiếng Ê đê trong sự so sánh với tiếng Việt) liên quan đến đề tài. Chương 2: Từ vựng tiếng Ê đê vay mượn tiếng Việt Nội dung chính được trình bày trong chương 2 là các lớp từ ngữ tiếng Ê đê vay mượn của tiếng Việt. Thống kê rõ số lượng từ ngữ trong mỗi lớp; phân tích, mô tả để tìm ra các phương thức mà tiếng Ê đê sử dụng để vay mượn từ ngữ của tiếng Việt. Chương 3: Từ vựng tiếng Việt vay mượn tiếng Ê đê Thống kê các lớp từ ngữ tiếng Việt vay mượn của tiếng Ê đê.
Làm rõ các phương thức mà tiếng Việt sử dụng khi vay mượn từ ngữ tiếng Ê đê. Ngoài ra, chương 3 còn đề cập đến vấn đề tên địa danh ở tỉnh Dak Lăk trong sự tiếp xúc ngôn ngữ. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA SỰ TIẾP XÚC NGÔN NGỮ Ê ĐÊ – VIỆT Ở TỈNH DAK LĂK 1. Tiếp xúc ngôn ngữ 1.
Thuật ngữ “tiếp xúc ngôn ngữ” Giao tiếp là nhu cầu thiết yếu, không thể thiếu được của con người trong xã hội. Để thực hiện hoạt động giao tiếp, con người sử dụng nhiều phương tiện khác nhau nhưng ngôn ngữ là phương tiện quan trọng và hiệu quả nhất. “Nhu cầu giao lưu đã khiến cho những người nói một ngôn ngữ nào đó tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp với những người nói những ngôn ngữ lân cận hay có ưu thế về mặt văn hóa. Sự giao lưu có tính chất hữu nghị hay thù địch.
Nó có thể diễn ra trên bình diện thường của những quan hệ kinh doanh hay buôn bán, hoặc có thể là một sự vay mượn hay trao đổi những giá trị tinh thần, nghệ thuật, khoa học, tôn giáo” (Ed. Sapir, 1949, tr237) (Dẫn theo Nguyễn Văn Khang) [14, tr. Thuật ngữ “tiếp xúc ngôn ngữ” do André Martinet là người đưa ra đầu tiên. Cho tới khi tác phẩm “Languages in contact” của U.
Weinrich ra đời thì thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi. Akhmanova) thì “tiếp xúc ngôn ngữ (language contact) được hiểu là sự tiếp hợp lẫn nhau giữa các ngôn ngữ do những điều kiện cận kề nhau về mặt địa lý, sự tương cận về mặt lịch sử, xã hội dẫn đến nhu cầu của các cộng đồng người vốn nói những thứ tiếng khác nhau phải giao tiếp với nhau”. Truyền thống ngôn ngữ học xác định, tiếp xúc ngôn ngữ về bản chất là “học ngôn ngữ”. Muốn biết nhiều ngôn ngữ khác nhau trên thế gới thì con người phải học tập.
Và khi có hai hoặc hơn hai ngôn ngữ tồn tại trong não bộ của một con người thì sẽ tạo ra sự tiếp xúc. Vì thế, tiếp xúc ngôn ngữ được coi là bắt đầu và xuất phát từ sự học tập. Tiếp xúc ngôn ngữ đầu tiên được xảy ra ở một bộ phận thành viên trong xã hội có tham gia học tập ngôn ngữ thứ hai. Sau đó, kết quả tiếp xúc sẽ được các thành viên này mở rộng ra toàn xã hội.
Sự tiếp xúc dựa trên việc học tập của một bộ phận thành viên xã hội vẫn được coi là tiếp xúc ngôn ngữ mà không cần đòi hỏi tất cả mọi người tham gia học một ngôn ngữ khác. Khi nói đến tiếp xúc ngôn ngữ với tư cách là một thuật ngữ ngôn ngữ học, người ta không muốn nói đến những chứng tích về văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị còn lại trong ngôn ngữ L1 mà ngôn ngữ L2 đã đưa đến. Tiếp xúc ngôn ngữ xét đến vấn đề căn bản nhất của ngôn ngữ là cấu trúc ngôn ngữ. Nói đến tiếp xúc ngôn ngữ là nói đến những thay đổi hết sức sâu sắc diễn ra ngay trong cấu trúc của L1 do L2 đưa đến; nói đến cái cơ chế vận hành của ngôn ngữ ở đằng sau vô số hiện tượng cụ thể.
Tức là nói đến cái điều mà chỉ nhà ngôn ngữ học mới có thể nhận thấy được và lí giải được. Khi nghiên cứu vấn đề tiếp xúc ngôn ngữ, chúng tôi nhận thấy có hai cách tiếp cận khác nhau của các nhà ngôn ngữ học: Thứ nhất, theo cách tiếp cận đơn ngữ luận, sự tiếp xúc ngôn ngữ thu hẹp vào sự vay mượn từ vựng và cách diễn đạt, không có sự tác động đến cấu trúc ngôn ngữ. Bởi vì, theo quan điểm này, cấu trúc của một ngôn ngữ, dù là cấu trúc ngữ âm, ngữ pháp hay ngữ nghĩa đều khép kín trong bản thân nó, do những quan hệ nội tại qui định. Tiếp xúc được xem như là một hiện tượng ngoài ngôn ngữ và bị gạt bỏ.
Đây là hiện tượng tiếp xúc bên ngoài của ngôn ngữ, hay còn gọi là sự tiếp xúc ở mặt ứng dụng. Đó là hiện tượng một người sử dụng hai hoặc hơn hai ngôn ngữ làm nên hiện tượng song ngữ và đa ngữ trong sử dụng. Cách nhìn nhận này thống trị trong giới ngôn ngữ học cho đến những năm 60 của thế kỉ XX. Cách tiếp cận đơn ngữ luận không những là có lí mà còn cần thiết ở giai đoạn đầu khi cấu trúc luận đang lo xây dựng cho nó một hệ thống thao tác để miêu tả ngôn ngữ một cách khách quan.
Thứ hai, theo cách tiếp cận song ngữ luận thì một ngôn ngữ là một thể thống nhất biện chứng giữa cái cấu trúc nội tại đã có với những khả năng phát triển do một cấu trúc khác đưa lại. Vì vậy, theo cách tiếp cận này, bên cạnh việc thừa nhận tính cấu trúc của ngôn ngữ và sự phát triển theo những qui luật nội tại của nó còn tính đến cả sự tiếp xúc ngôn ngữ. Trước hết là sự tiếp xúc ở mặt cấu trúc hay còn gọi là sự tiếp xúc trong nội bộ ngôn ngữ. Đây là mối quan hệ tương tác, tác động và ảnh hưởng lẫn nhau giữa hai hoặc hơn hai ngôn ngữ trong bộ óc con người.
Sự tiếp xúc này làm ảnh hưởng đến cấu trúc ngôn ngữ. Hệ quả của sự tiếp xúc này là sự vay mượn, hay sự thẩm thấu các thành phần, các phương thức, thậm chí làm thay đổi các qui tắc, thay đổi hệ thống và cấu trúc, đến mức có thể gây nên sự pha trộn giữa hai ngôn ngữ làm nảy sinh một ngôn ngữ mới. Lối tiếp cận này chỉ được thừa nhận khi sự tiếp xúc ngôn ngữ là có thực, tức là có hiện tượng một ngôn ngữ L1 thay đổi cấu trúc vì tiếp xúc với một ngôn ngữ L2. Đây là một hiện tượng chung của ngôn ngữ loài người chứ không phải là ngoại lệ, mặc dầu có sự khác nhau ở cách biểu hiện của mỗi loại hình ngôn ngữ.
Cách tiếp cận song ngữ luận hiện nay được đa số các nhà ngôn ngữ học tin tưởng. Bởi vì, cách tiếp cận song ngữ luận không phải là đối lập lại cách tiếp cận đơn ngữ luận mà chỉ là giúp cho cách nhìn này càng thêm chặt chẽ. Theo Phan Ngọc, “chấp nhận song ngữ luận không phải là dùng nó để thay thế đơn ngữ luận mà trái lại, dùng nó để bổ sung cho quan điểm đơn ngữ luận càng thêm chặt chẽ” [20, tr. Một yếu tố do tiếp xúc nếu đã nhập vào cấu trúc của nó là vận hành theo cái cấu trúc của ngôn ngữ, nó gây nên những biến đổi trong cấu trúc này là do những quan hệ bên trong của ngôn ngữ chứ không phải do tiếp xúc.
Tiếp xúc chỉ đóng vai trò là một áp lực đẩy nhanh sự chuyển biến của cấu trúc chứ không phải đóng vai người điều khiển cấu trúc. Bởi vì, muốn là một hệ thống tín hiệu, ngôn ngữ trước hết phải nhất quán với chính nó. Hệ quả của tiếp xúc ngôn ngữ Trong xã hội đa ngữ, các ngôn ngữ tiếp xúc lẫn nhau và ảnh hưởng lẫn nhau. Hệ quả của sự ảnh hưởng này được biểu hiện chủ yếu ở giao thoa, vay mượn và pha trộn (lai tạp) ngôn ngữ.
Giao thoa (interference) vốn là một thuật ngữ vật lí được dùng trong ngôn ngữ. Trong lĩnh vực ngôn ngữ học, giao thoa được hiểu “là hiện tượng chệch chuẩn của tiếng mẹ đẻ dưới tác động của ngôn ngữ thứ hai hoặc hiện tượng chệch chuẩn của ngôn ngữ thứ hai dưới tác động của tiếng mẹ đẻ ở những người song ngữ / đa ngữ” [14, tr. Với quan niệm này, giao thoa dùng để chỉ hiện tượng tác động qua lại giữa cấu trúc và các yếu tố của cấu trúc của hai hoặc hơn hai ngôn ngữ trong môi trường song ngữ, đa ngữ. Giao thoa chỉ xảy ra trong các ngôn ngữ có sự tiếp xúc trực tiếp với nhau.
Vay mượn từ vựng cũng là một hiện tượng xảy ra khi có sự tiếp xúc giữa hai hay nhiều ngôn ngữ. Khi ngôn ngữ L1 bất kì tiếp xúc với ngôn ngữ L2 thì hai ngôn ngữ này có thể vay mượn từ vựng của nhau bằng nhiều phương thức khác nhau như dịch nghĩa, phiên âm, chuyển tự hay mượn nguyên dạng. Vay mượn xảy ra có thể là do thiếu, do ngôn ngữ L1 không có vốn từ chỉ một khái niệm nào đó trong khi ngôn ngữ L2 lại có. Nhưng có khi mặc dù không thiếu, đã có sẵn nhưng các ngôn ngữ vẫn vay mượn của nhau nhằm làm phong phú thêm vốn từ vựng của mình.
Nếu như giao thoa chỉ có thể xảy ra khi có sự tiếp xúc trực tiếp, lâu dài của cư dân khác ngôn ngữ thì vay mượn lại có thể xảy ra ngay cả khi không có sự tiếp xúc trực tiếp của hai cư dân ngôn ngữ. Khi hai ngôn ngữ tiếp xúc với nhau thì phát sinh một hện tượng nữa gọi là lai tạp mà “tiếng bồi” là hình thức chủ yếu nhất của hiện tượng này. “Tiếng bồi là một thứ ngôn ngữ được dùng theo thói quen của những người có tiếng mẹ đẻ khác nhau, nhằm làm dễ dàng trong giao tiếp giữa họ”. Hay nói cách khác, tiếng bồi ra đời như là biến dạng của sự tiếp xúc ngôn ngữ.
Tiếng bồi ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu giao tiếp mang tính lâm thời trong một cộng đồng xã hội có các thành viên nói các ngôn ngữ khác nhau: khi tiếp xúc nhau, họ đã không thể giao tiếp được, vì thế họ phái tìm đến một ngôn ngữ giao tiếp chung bằng cách tạo ra một ngôn ngữ phụ trợ dựa trên cơ sở các ngôn ngữ của họ. Vì thế tiếng bồi được hình thành do sự lai tạp của ít nhất hai ngôn ngữ.