Chương 1: TIỂU THUYẾT KIM DUNG VÀ LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN VĂN HỌC 1.1 Tiểu thuyết Kim Dung 1.1 Tiểu sử và quá trình sáng tác của Kim Dung Kim Dung 金庸 tên thật là Tra Lương Dung 查良鏞 , sinh ngày 06 tháng 02 năm 1924, tại trấn Viên Hoa, Hải Ninh, tỉnh Triết Giang–Trung Quốc. Chữ Dung 庸 trong tên ông có nghĩa là quả chuông lớn, gồm bộ Kim 金 (thanh thép) và âm Dung 庸 (bình thường). Ông đã tách tên mình ra thành hai chữ Kim Dung 金庸 (thanh thép bình thường) và dùng nó để làm bút danh của mình. Kim Dung xuất thân trong một gia đình dòng tộc nổi tiếng về khoa danh: “Một nhà có bảy tiến sĩ, chú cháu năm hàn lâm” [76, Tr.
Gia đình Kim Dung có truyền thống văn học, ông nội tổ là Tra Thận Hành một nhà thơ nổi tiếng đời nhà Thanh. Còn ông nội là Tra Văn Thanh đỗ tiến sĩ và làm tri huyện ở tỉnh Giang Tô, cũng là tác giả nổi tiếng của tập thơ Hải Ninh sát thị sao thi. Vì từ nhỏ Kim Dung rất thích đọc sách, báo, tiểu thuyết, nhà ông có rất nhiều tác phẩm nổi tiếng như: Tam Quốc chí, Thủy hử, hay tác phẩm của Lỗ Tấn, Mao Thuẫn, Lão Xá, Ba Kim… Lúc sáu tuổi, Kim Dung rất ham đọc sách và trở thành một học sinh giỏi, ông cùng với thầy là Vị Đông biên tập tờ báo lớp, một số bài văn của Kim Dung được đăng trên tờ Đông Nam nhật báo. 14 Năm lên tám tuổi Kim Dung đã bắt đầu đọc tiểu thuyết chương hồi cổ điển Trung Quốc, khi đọc đến bộ truyện Hoàng Giang nữ hiệp của Cố Minh Đạo, cảm thấy rất say mê, tuy có phần không hiểu nhưng đó là nền tảng để ông sáng tác các tiểu thuyết võ hiệp sau này.
Năm mười sáu tuổi, ông viết truyện trào phúng Cuộc du hành của Alice nhằm châm biếm chủ nhiệm ban huấn đạo, nên ông bị đuổi học. Mặc dù có những trắc trở nhưng cho thấy sự tưởng tượng, cũng như tinh thần phản kháng của Kim Dung, điều đó sau này được thể hiện rất rõ trong các tác phẩm của ông. Đến năm 1941: chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ, để bớt đi gánh nặng các trường phải cho học sinh tốt nghiệp sớm, Kim Dung cũng nằm trong số đó. Sau này ông thi vào học Luật quốc tế tại học viện chính trị Trung ương ở Trùng Khánh.
Đến năm thứ ba, Kim Dung bị đuổi học do tham gia cuộc bạo loạn chính trị, vì đã viết thư tố cáo một vụ bê bối ở trường, đây là lần thứ hai ông bị đuổi học. Năm mười chín tuổi Kim Dung làm việc tại thư viện Trung ương, ở đây ông đọc rất nhiều sách sử học, khoa học và những tiểu thuyết võ hiệp đương thời ông còn đọc các tác phẩm như: Ba chàng lính ngự lâm, Bá tước Monte Cristo của Alexandre Dumas cha. Tại đây Kim Dung bắt đầu nảy sinh ý định sáng tác truyện võ hiệp. Năm 1946: Kim Dung về Hàng Châu làm việc cho tờ Đông Nam nhật báo theo lời giới thiệu của Trần Hướng Bình, người đã ngưỡng mộ ông (khi ông viết bài “Một sự ngông cuồng của trẻ con” đăng trên Đông nam nhật báo làm chấn động dư luận ở trường Cù Châu lúc ông mười sáu tuổi).
Nhưng sau đó, Kim Dung lại đến Thượng Hải học luật, ngành quốc tế công pháp. Năm 1948: Kim Dung sang Hồng Kông làm việc cho tờ Đại công báo ở đây ông được phụ trách là dịch tin quốc tế. Trước khi Kim Dung sang Hồng Kông ông đã cưới người vợ đầu tiên của mình, hôn lễ được tổ chức tại Thượng Hải. 15 Năm 1950 – 1955: Ông làm biên tập phụ san, phụ trách chuyên mục Chuyện trà chiều (Ngọ hậu trà tọa) cho tờ Tân Vấn báo.
Ở đây Kim Dung bắt đầu viết kịch bản phim như: Lan hoa hoa (1953), Tuyệt đại mỹ nhân (1953), Tam luyến (1953) và lấy bút danh là Diêu Phức Lan (Phiên âm Your friend: người bạn của bạn). Cho đến năm 1955 ông bắt đầu viết truyện võ hiệp đầu tay là Thư kiếm ân cừu lục (Thư kiếm giang sơn) với sự giúp đỡ của hai người bạn thân là Lương Vũ Sinh và La Phù. Tác phẩm được đăng hàng ngày trên tờ Hương Cảng tân báo và bút danh Kim Dung cũng xuất hiện từ đây. Năm 1956: Kim Dung cùng với bạn là Lương Vũ Sinh, Trần Phàm mở mục Tam kiếm lâu tùy bút trên Đại công báo và cho đăng tiếp bộ truyện võ hiệp thứ hai là Bích huyết kiếm được đón nhận và hoan nghênh nhiệt liệt.
Năm 1957: Ông chuyển sang làm cho công ty điện ảnh Trường Thành và viết một số truyện phim như: Ba mối tình, Tiếng đàn khuya… Trong thời gian này, Kim Dung cho đăng bộ tiểu thuyết võ hiệp Xạ điêu anh hùng truyện (Anh hùng xạ điêu). Năm 1959: Kim Dung cùng với bạn là Thấm Bảo Tân thành lập tờ Minh Báo tại Hồng Kông. Kim Dung làm chủ bút. Trong năm này ông cho ra đời hai bộ tiểu thuyết là Tuyết sơn phi hồ (bộ truyện ngắn nhất trong số truyện dài), vào ngày 20.05 cùng năm Kim Dung cho đăng Thần điêu hiệp lữ (Thần điêu đại hiệp) liên tục trong ba năm.
Năm 1960: Kim Dung đăng Phi hồ ngoại truyện (Lãnh nguyệt bảo đao). Năm 1961: Tiểu thuyết Bạch mã khiếu tây phong, Ỷ thiên đồ long ký (Cô gái đồ long) và Uyên ương đao lần lượt được Kim Dung cho ra đời. Năm 1963: Ông đăng Liên thành huyết (Tố tâm kiếm) trên Minh báo và trên tuần san Đông Nam Á của Singapore và cũng trong năm này Kim Dung đăng Thiên long bát bộ (Lục mạch thần kiếm truyện) cũng đăng trên hai tờ báo trên. 16 Năm 1965: Kim Dung cho ra đời Hiệp khách hành.
Năm 1967 ông đăng Tiếu ngạo giang hồ. Trong năm 1970 Kim Dung cũng cho ra đời một truyện ngắn đó là tác phẩm Việt nữ kiếm. Từ năm 1969 – và 1972 ông viết và đăng tiểu thuyết Lộc đỉnh ký (Lộc đỉnh công), đến ngày 23.1972 Kim Dung mới đăng trọn bộ Lộc đỉnh ký trên tờ Minh báo, đăng suốt trong hai năm một tháng mới hết. Sau đó ông tuyên bố không viết tiểu thuyết võ hiệp nữa, tập trung vào việc thành lập một loạt Minh báo với nhiều thời gian khác nhau như: Minh báo buổi sáng, Minh báo buổi chiều, Minh báo nguyệt san… viết xã luận, bình luận ngắn và sửa chữa những tiểu thuyết võ hiệp đã đăng.
Như vậy, trong khoảng thời gian từ năm 1955 – 1972 Kim Dung đã cho ra đời mười hai bộ tiểu thuyết dài, hai bộ truyện vừa, một bộ truyện ngắn, một bộ lịch sử nhân vật bình truyện và một bộ lịch sử khảo cứu văn tự. Trong đó mỗi tác phẩm của ông là một bộ (mỗi bộ là trên 10 quyển Việt Ngữ, trung bình mỗi quyển là từ 500 – 600 trang) và hầu hết các tiểu thuyết của Kim Dung đều được đăng trên các nhật báo. Đến năm 1994 nhà xuất bản Tam Liên Thư Điếm ở Bắc Kinh trao quyền xuất bản toàn bộ những tác phẩm của Kim Dung gồm có 36 cuốn tức là trọn 15 bộ tiểu thuyết võ hiệp. Tiểu thyết Kim Dung sau khi được sửa chữa và hiệu đính, chỉ trong hai năm tiểu thuyết của ông được tái bản đến ba lần.
Người viết tổng hợp tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung như sau: 1. Thư kiếm ân cừu lục (書劍恩仇錄) sáng tác 1955 -1956. Bích huyết kiếm (碧血劍) sáng tác 1956 – 1957. Xạ điêu anh hùng truyện (射雕英雄傳) sáng tác 1957.
Thần điêu hiệp lữ (神雕俠侶) sáng tác 1959. Tuyết sơn phi hồ (雪山飛狐) sáng tác 1959. Phi hồ ngoại truyện (飛狐外傳) sáng tác 1960. Bạch mã khiếu tây phong (白馬嘯西風) sáng tác 1961.
Uyên ương đao (鴛鴦刀) sáng tác 1961. Ỷ thiên Đồ long ký (倚天屠龍記) sáng tác 1961. Liên thành quyết (連城訣) sáng tác 1963. Thiên long bát bộ (天龍八部) sáng tác 1963.
Hiệp khách hành (俠客行) sáng tác 1965. Tiếu ngạo giang hồ (笑傲江湖) sáng tác 1967. Lộc Đỉnh ký (鹿鼎記) sáng tác 1967- 1972. Việt nữ kiếm (越女劍) sáng tác 1970.
Do số lượng tác phẩm Kim Dung khá nhiều nên ông đã lấy chữ cái đầu tiên của tên tác phẩm đặt thành một câu đối cho dễ nhớ: Phi Tuyết Liên Thiên Xạ Bạch Lộc Tiếu Thư Thần Hiệp Ỷ Bích Uyên Từ đó những bộ truyện của Kim Dung được xem là tiểu thuyết võ hiệp thành công nhất, không chỉ tác động đến văn học Trung Quốc mà còn ảnh hưởng đến độc giả nước ngoài như: Trung Hoa đại lục, Đài Loan, Indonesia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Anh, Pháp, Mỹ… tác phẩm của ông còn được còn được chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh – truyền hình, sân khấu, phiên bản trò chơi điện tử, truyện tranh, truyện mô phỏng. Điều này tạo nên một bước phát triển mới trong làng giải trí Trung Quốc và cả Việt Nam. Tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung là một hiện tượng văn học nổi bật vào đầu thế kỉ XX. Người đọc có thể thấy thơ, từ, ca, phú, cầm, kỳ, thi, họa, đạo (Nho, Phật, Thiên Chúa…) trong tiểu thuyết.
Người viết xin trích dẫn lời của Trần Mặc (1996), Võ học trong tiểu thuyết của Kim Dung, Nxb Bách Hoa Châu Văn Nghệ, để chúng ta thấy được “vị ngon trên cả vị ngon” trong tiểu thuyết Kim Dung: “truyện Kim Dung không phải là phụ liệu mà là món 18 ăn đầu vị bên cạnh món ăn đầu vị khác thuộc văn, phải nếm náp thật kĩ mới nhận ra vị ngon, trên cả vị ngon, có thể sánh ngang với Triết học, Nhân học, Tâm lý học, Xã hội học…” 1.2 Tiểu thuyết Kim Dung tại Việt Nam Vào những năm đầu của thế kỉ XX, ở Việt Nam nổi lên một hiện tượng mê đọc tiểu thuyết nước ngoài, đặc biệt là tiểu thuyết võ hiệp. Mặc dù, tiểu thuyết võ hiệp ra đời từ rất lâu, ở phương Tây tiểu thuyết võ hiệp được biết đến từ thời Hy Lạp cổ đại với những truyện theo thể tài hiệp sĩ như chuyện Tristan và Iseult. Nhưng đến cuối thời đại Phục Hưng thì tiểu thuyết võ hiệp mới thực sự được biết đến qua tác phẩm phản hiệp sĩ Don Quixote của nhà văn Tây Ban Nha, ở Pháp có Ba chàng lính ngự lâm pháo thủ, ở Anh có Robin Hood. Ở Trung Quốc lịch sử phát triển của tiểu thuyết được manh nha từ thời Ngụy, Tấn dưới dạng chí quái tiêu biểu như những tác phẩm: Sưu thần ký, Liệt di truyện….
dạng chí nhân có tác phẩm: Thế thuyết tân ngữ. Nhưng tiểu thuyết được thịnh hành nhất là vào đời Đường với thể loại truyền kỳ hiệp khách, có thể kể tới các tác phẩm như: Bạch viên truyện, Cổ kính ký, Cô lôn nô, Vô song truyện, Nhiếp Ân nương và Cầu tu khách truyện. Đây được xem là thời kỳ tiền thân cho việc phát triển thể loại tiểu thuyết sau này.