Tổng quan nghiên cứu

Trà Vinh là vùng đất hội tụ nét đẹp văn hóa độc đáo với hơn 300.000 đồng bào dân tộc Khmer sinh sống, chiếm 31,5% dân số toàn tỉnh cùng hệ thống 142 ngôi chùa Nam tông cổ kính. Mặc dù sở hữu nguồn tài nguyên nhân văn vô cùng phong phú từ kiến trúc, lễ hội đến làng nghề truyền thống với hơn 150 giống lúa tẻ và nếp bản địa, ngành du lịch tỉnh Trà Vinh vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng vốn có. Giai đoạn 2012 - 2016, toàn tỉnh đón 1,876 triệu lượt khách nhưng cơ cấu doanh thu từ mảng lữ hành chỉ chiếm tỷ trọng khiêm tốn khoảng 5,18% trong tổng doanh thu du lịch đạt 503,928 tỷ đồng.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết sự mâu thuẫn giữa tiềm năng tài nguyên văn hóa phong phú và kết quả khai thác du lịch còn nghèo nàn, tự phát. Mục tiêu cụ thể của đề tài gồm ba nội dung: hệ thống hóa cơ sở lý luận về tiềm năng du lịch văn hóa; đánh giá thực trạng và tiềm năng của các thành tố văn hóa Khmer Nam bộ tại Trà Vinh; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp chiến lược nhằm xây dựng thương hiệu "Trà Vinh – Du lịch văn hóa xanh".

Phạm vi nghiên cứu không gian tập trung tại tỉnh Trà Vinh, trọng điểm là thành phố Trà Vinh và huyện Châu Thành cùng các địa bàn phụ cận như Cầu Kè, Trà Cú, Cầu Ngang. Phạm vi thời gian nghiên cứu thực địa được triển khai trong 6 tháng từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 3 năm 2018. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp luận cứ khoa học để nâng tỷ lệ khách lưu trú từ mức 66,83% năm 2016 lên trên 75% trong các năm tiếp theo, đồng thời tạo đòn bẩy gia tăng tỷ trọng doanh thu lữ hành vượt mốc 15% tổng doanh thu toàn ngành du lịch.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng 2 lý thuyết học thuật cốt lõi: Lý thuyết phát triển du lịch bền vững và Lý thuyết chuỗi giá trị du lịch văn hóa. Cùng với đó là mô hình tương tác 3 bên giữa Tài nguyên du lịch, Tiềm năng du lịch và Sản phẩm du lịch. Theo khung lý thuyết của Tổ chức Du lịch Thế giới và Luật Du lịch Việt Nam năm 2017, tài nguyên chỉ chuyển hóa thành sản phẩm thương mại khi được đánh giá đúng tiềm năng và có sự tham gia của chuỗi cung ứng dịch vụ hoàn chỉnh.

Đề tài làm rõ 4 khái niệm nền tảng: Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể và phi vật thể; Tiềm năng du lịch; Du lịch văn hóa; Du lịch cộng đồng. Đồng thời, nghiên cứu tổng hợp và đúc kết bài học kinh nghiệm quốc tế từ 4 quốc gia gồm Trung Quốc (quản lý sức chứa tại Tử Cấm Thành và Di Hòa Viên), Thái Lan (xếp hạng 5 cấp độ tiềm năng tại Ayutthaya), Hàn Quốc (quản trị Cung Changdeokgung) và Campuchia (mô hình Angkor với mức vé 20 USD đến 60 USD, khống chế mật độ tối đa 300 khách mỗi lượt); kết hợp bài học thực tiễn trong nước từ phố cổ Hội An, cố đô Huế và tỉnh Sóc Trăng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp đồng bộ phương pháp định tính và định lượng dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp đáng tin cậy. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê tỉnh, báo cáo ngành du lịch qua 5 năm từ 2012 đến 2016 và 11 văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước cùng Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa tại 15 điểm tài nguyên trọng điểm và bảng hỏi tham vấn ý kiến chuyên gia.

Cỡ mẫu nghiên cứu chuyên gia gồm 20 chuyên gia đầu ngành, bao gồm các giảng viên đại học chuyên ngành du lịch, đại diện lãnh đạo 11 doanh nghiệp lữ hành, cán bộ quản lý thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Trà Vinh cùng các nghệ nhân, chức sắc tôn giáo Khmer. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu phi xác suất có chủ đích nhằm đảm bảo các đối tượng khảo sát có kiến thức chuyên môn sâu sắc về văn hóa bản địa và thị trường lữ hành. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích ma trận SWOT kết hợp thống kê mô tả là nhằm lượng hóa chính xác các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của 142 ngôi chùa cùng các làng nghề, lễ hội truyền thống. Toàn bộ tiến trình nghiên cứu và xử lý thông tin được thực hiện nghiêm túc trong 6 tháng từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 3 năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã đưa ra 4 phát hiện quan trọng về thực trạng và tiềm năng phát triển du lịch văn hóa Khmer tại Trà Vinh:

Thứ nhất, cơ cấu doanh thu du lịch bộc lộ sự mất cân đối nghiêm trọng khi doanh thu từ mảng lữ hành chỉ chiếm trung bình 5,18% đến 7,44% tổng doanh thu trong giai đoạn 2012 đến 2016, giảm từ 8,19% năm 2012 xuống còn 4,89% vào năm 2016. Ngược lại, nguồn thu phụ thuộc lớn vào dịch vụ lưu trú chiếm 27,57% và dịch vụ ăn uống chiếm 20,64% trên tổng doanh thu tăng từ 75,853 tỷ đồng năm 2012 lên 160 tỷ đồng vào năm 2016.

Thứ hai, thị trường khách du lịch có sự phân hóa mạnh khi khách nội địa chiếm tỷ trọng áp đảo từ 96,81% đến 97,85%, trong khi lượng khách quốc tế chỉ dao động khiêm tốn từ 2,15% đến 3,19% trong tổng số 1,876 triệu lượt khách giai đoạn 2012 đến 2016. Tỷ lệ khách lưu trú có xu hướng tăng từ 51,85% năm 2012 lên 66,83% năm 2016, nhưng số ngày lưu trú bình quân chỉ đạt khoảng 1,2 ngày mỗi khách.

Thứ ba, nguồn tài nguyên văn hóa Khmer vô cùng đặc sắc với 142 ngôi chùa Nam tông, các lễ hội lớn như Ok Om Bok, Chôl Chnăm Thmây, nghệ thuật sân khấu Rôbăm, kịch hát Dù kê, cùng các đặc sản ẩm thực trứ danh như bánh tét Trà Cuôn nặng từ 0,8 đến 1,2 kg, bún nước lèo và cốm dẹp Ba So. Tuy nhiên, toàn tỉnh năm 2016 chỉ có 2 mô hình homestay thí điểm là Sươn Sia (5 phòng, phục vụ tối đa 15 khách) và Mekong (3 bungalow, phục vụ tối đa 10 khách).

Thứ tư, nguồn nhân lực du lịch tại địa phương thiếu hụt trầm trọng về chuyên môn khi toàn ngành có 1.085 lao động trực tiếp vào năm 2016, trong đó 601 người làm lưu trú và 167 người làm lữ hành. Lực lượng thuyết minh viên thông thạo tiếng Khmer chỉ dưới 5 người và số lượng Nghệ sĩ Ưu tú am hiểu nghệ thuật Khmer trên toàn quốc hiện còn chưa tới 10 người.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những hạn chế trên là do 142 ngôi chùa và các điểm di sản văn hóa tại Trà Vinh vẫn đang ở giai đoạn sơ khai của vòng đời phát triển du lịch, hầu như chưa được thương mại hóa thành sản phẩm lữ hành hoàn chỉnh. So sánh với tỉnh láng giềng Sóc Trăng hay quần thể di tích Siem Reap tại Campuchia, Trà Vinh sở hữu tài nguyên tương đồng nhưng lại yếu thế về hạ tầng giao thông kết nối nông thôn và thiếu hệ thống thuyết minh đa ngôn ngữ.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được biểu diễn trực quan thông qua biểu đồ tròn phản ánh cơ cấu doanh thu lữ hành lép vế chỉ chiếm 4,89% và bảng tổng hợp ma trận SWOT đánh giá 8 nhóm nhân tố ảnh hưởng. Ý nghĩa của phát hiện này chỉ ra rằng, nếu 11 doanh nghiệp lữ hành trên địa bàn tiếp tục duy trì trạng thái thụ động và không khai thác 15 điểm tham quan sẵn có, tài nguyên văn hóa Khmer sẽ đứng trước nguy cơ bị mai một và suy giảm tính nguyên bản do thương mại hóa tự phát.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát và tham vấn ý kiến chuyên gia, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược hành động:

Thứ nhất, xây dựng và đưa vào khai thác thí điểm 3 chương trình tour du lịch văn hóa trải nghiệm hoàn chỉnh trong giai đoạn 2018 - 2020. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì phối hợp với 11 công ty lữ hành liên kết tuyến điểm Ao Bà Om, bảo tàng văn hóa Khmer, chùa Âng, chùa Hang, chùa NôDol và chùa Vàm Rây. Tổ chức kịch bản biểu diễn nghệ thuật dân gian Khmer chuẩn 60 phút gồm ca múa Rôbăm, Dù kê và hòa tấu ngũ âm tại khuôn viên chùa định kỳ vào tối thứ Bảy, đặt mục tiêu phục vụ tối thiểu 35.000 lượt khách mỗi năm.

Thứ hai, nâng cấp hạ tầng du lịch cộng đồng và phát triển mạng lưới homestay trong giai đoạn 2018 - 2022. Ủy ban nhân dân tỉnh và chính quyền các huyện Châu Thành, Cầu Kè hỗ trợ chính sách vốn ưu đãi để nhân rộng thêm tối thiểu 20 mô hình homestay đạt chuẩn tại các phum sóc, nâng tổng công suất phục vụ từ 25 khách hiện tại lên 300 khách lưu trú mỗi đêm. Cải tạo 100% các trục đường giao thông dẫn vào làng nghề làm cốm dẹp Ba So và làng nghề dệt chiếu.

Thứ ba, đào tạo và chuẩn hóa nguồn nhân lực du lịch văn hóa giai đoạn 2018 - 2025. Trường Đại học Trà Vinh phối hợp với các cơ quan chuyên môn mở 10 khóa đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ hướng dẫn viên, văn hóa giao tiếp và ngoại ngữ cho 500 lao động địa phương, ưu tiên người dân tộc Khmer với mục tiêu đạt tối thiểu 40% thuyết minh viên tại điểm là người Khmer bản địa.

Thứ tư, đẩy mạnh quảng bá và định vị thương hiệu "Trà Vinh – Du lịch văn hóa xanh" giai đoạn 2018 - 2025. Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch tỉnh số hóa dữ liệu 142 ngôi chùa Khmer, xây dựng ứng dụng thuyết minh thông minh và tổ chức thường niên 2 sự kiện lễ hội ẩm thực gắn liền với lễ hội Ok Om Bok và Chôl Chnăm Thmây, phấn đấu đưa tỷ trọng doanh thu lữ hành đạt 12% vào năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị học thuật và giải pháp ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch và văn hóa tại Trà Vinh cùng các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để Ủy ban nhân dân tỉnh và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cụ thể hóa Kế hoạch 49 năm 2017 về xã hội hóa du lịch, quản lý hiệu quả 142 ngôi chùa và tối ưu nguồn vốn cho 11 dự án mời gọi đầu tư du lịch đến năm 2020.

Nhóm thứ hai, các doanh nghiệp lữ hành và nhà đầu tư du lịch. Công trình cung cấp trọn bộ kịch bản tour 2 ngày 1 đêm, dữ liệu khảo sát 15 điểm tham quan và tiêu chuẩn tổ chức đêm văn nghệ Khmer, giúp 11 đơn vị lữ hành tại địa phương chủ động chuyển hướng từ việc chỉ đưa khách đi tour ngoài tỉnh sang xây dựng sản phẩm đón khách trong nước và quốc tế về Trà Vinh.

Nhóm thứ ba, các giảng viên, nhà nghiên cứu và sinh viên chuyên ngành Du lịch, Văn hóa học, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành. Đề tài là tài liệu tham khảo giá trị với chuỗi dữ liệu kinh tế 5 năm (2012 - 2016), phương pháp phân tích SWOT và bộ tiêu chí đánh giá điểm du lịch nhân văn của cộng đồng dân tộc thiểu số.

Nhóm thứ tư, cộng đồng cư dân địa phương, nghệ nhân và ban quản trị các chùa Khmer. Tài liệu hướng dẫn phương thức phát triển du lịch homestay quy mô từ 5 đến 15 khách, tạo sinh kế bền vững và nâng cao thu nhập từ việc bảo tồn 100% bản sắc văn hóa lễ hội, làng nghề truyền thống.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Luận văn đã sử dụng nguồn số liệu nào để phân tích thực trạng phát triển du lịch tại tỉnh Trà Vinh? Nghiên cứu đã khai thác chuỗi dữ liệu thứ cấp chính thống qua 5 năm từ 2012 đến 2016 do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Trà Vinh cung cấp. Số liệu ghi nhận toàn tỉnh đón 1,876 triệu lượt khách với tổng doanh thu 503,928 tỷ đồng, trong đó doanh thu mảng lữ hành chỉ chiếm tỷ lệ 4,89% vào năm 2016.

Câu hỏi 2: Nét đặc trưng tạo nên sự khác biệt giữa văn hóa Khmer Nam bộ tại Trà Vinh so với Khmer Campuchia là gì? Cộng đồng người Khmer Trà Vinh với hơn 300.000 người, chiếm 31,5% dân số tỉnh, trải qua quá trình cộng cư lâu đời cùng người Kinh và người Hoa. Sự giao thoa này tạo nên tính cách hòa đồng, hiếu khách, văn hóa tín ngưỡng Neak Ta trong 142 ngôi chùa Nam tông và các món ăn độc đáo như bánh tét Trà Cuôn, bún nước lèo mang đậm phong vị Tây Nam bộ.

Câu hỏi 3: Vì sao tiềm năng du lịch văn hóa Khmer tại Trà Vinh chưa được khai thác mạnh mẽ như tỉnh Sóc Trăng? Dù cùng sở hữu trên 140 ngôi chùa cổ, Trà Vinh gặp điểm nghẽn về hạ tầng kết nối nông thôn và tính liên kết lữ hành khi 11 doanh nghiệp du lịch chỉ tập trung bán tour ngoại tỉnh. Năm 2016 toàn tỉnh chỉ có 2 điểm homestay đón dưới 25 khách và thiếu lực lượng hướng dẫn viên chuyên nghiệp người bản địa.

Câu hỏi 4: Cỡ mẫu nghiên cứu chuyên gia và phương pháp khảo sát thực địa được thực hiện như thế nào? Tác giả đã phỏng vấn sâu 20 chuyên gia gồm các nhà khoa học, cán bộ quản lý nhà nước và lãnh đạo 11 doanh nghiệp du lịch trong thời gian 6 tháng từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 3 năm 2018. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích giúp lượng hóa chính xác bộ tiêu chí đánh giá tiềm năng điểm đến.

Câu hỏi 5: Luận văn đề xuất sản phẩm du lịch cụ thể nào để thu hút khách đến Trà Vinh? Đề tài đề xuất chương trình tour trải nghiệm 2 ngày 1 đêm kết nối danh thắng Ao Bà Om, chùa Âng, chùa Hang, thưởng thức cốm dẹp Ba So và thưởng thức chương trình văn nghệ 60 phút kịch múa Rôbăm, Dù kê. Mục tiêu chiến lược là đưa tỷ trọng doanh thu lữ hành tăng từ 4,89% lên 12% vào giai đoạn 2020 - 2025.

Kết luận

Luận văn đã hoàn thành trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu và đóng góp các giá trị học thuật, thực tiễn quan trọng qua 5 nội dung chính:

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận về chuỗi giá trị du lịch văn hóa và lượng hóa tiềm năng khai thác của 142 ngôi chùa Nam tông Khmer tại Trà Vinh.
  • Đánh giá khách quan thực trạng du lịch giai đoạn 2012 - 2016 với 1,876 triệu lượt khách, vạch rõ điểm nghẽn mảng lữ hành khi chỉ đóng góp 4,89% doanh thu năm 2016.
  • Thiết lập bộ tiêu chí đánh giá điểm đến du lịch văn hóa Khmer và xây dựng kịch bản tour trải nghiệm 2 ngày 1 đêm hoàn chỉnh tại thành phố Trà Vinh và huyện Châu Thành.
  • Hoạch định hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược phát triển 20 cơ sở homestay và đào tạo 500 lao động chuyên môn gắn liền với thương hiệu "Trà Vinh – Du lịch văn hóa xanh" đến năm 2025.
  • Xác lập cơ chế cân bằng lợi ích kinh tế giữa doanh nghiệp, chính quyền và đồng bào Khmer nhằm bảo tồn 100% tính nguyên bản của di sản văn hóa phi vật thể.

Về lộ trình tiếp theo, tỉnh Trà Vinh cần nhanh chóng triển khai giai đoạn thí điểm các sản phẩm tour văn hóa trong năm 2018 - 2020 và mở rộng quy mô toàn diện đến năm 2025. Hãy bắt đầu nghiên cứu toàn văn công trình để cùng chung tay khai phóng tiềm năng văn hóa, đưa Trà Vinh trở thành trung tâm du lịch văn hóa đặc sắc hàng đầu vùng Đồng bằng sông Cửu Long.