Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIỀM NĂNG DU LỊCH VĂN HÓA VÀ VĂN HÓA KHMER NAM BỘ 1. Cơ sở lý luận về tiềm năng du lịch văn hóa 1. Khái niệm về du lịch và sản phẩm du lịch Trên thế giới và cả Việt Nam, du lịch có rất nhiều khái niệm và định nghĩa, điều này giúp cho chúng ta dễ dàng tiếp cận và lựa chọn định nghĩa phù hợp với mục đích và sự quan tâm về lý luận du lịch. Như tác giả Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa (2009, trang 9 – 16), “Du lịch là hiện tượng những người ở chỗ khác, ngoài nơi cư trú thường xuyên, đi đến bằng các phương tiện giao thông và sử dụng sản phẩm của các xí nghiệp du lịch”; hay “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tượng phát sinh từ cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở và nơi làm việc thường xuyên của họ”.
Các khái niệm trên cho thấy, du lịch có ba thuộc tính: con người di chuyển khỏi nơi cư trú thường xuyên, sử dụng dịch vụ du lịch, có các mối quan hệ khác trong suốt cuộc hành trình; tuy nhiên, về mục đích của chuyến đi thì chưa được tác giả đề cập đến. Mặt khác, theo quan điểm của Robert W.R Brent Ritcie, du lịch là tổng hợp các mối quan hệ nảy sinh từ các tác động qua lại giữa khách du lịch, nhà cung ứng, chính quyền và cộng đồng chủ nhà trong quá trình thu hút và đón tiếp khách du lịch (trích dẫn bởi Trần Thị Mai, Vũ Hoài Phương, La Phương Anh, Nguyễn Khắc Toàn, 2009). Tại Việt Nam, Quốc hội (2017), Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá một năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác. Hay theo góc độ về văn hóa thì Du lịch là quá trình hoạt động của con người rời khỏi quê hương đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là được thẩm nhận những giá trị vật chất và tinh thần đặc sắc, độc đáo, khác lạ so với quê hương không nhằm mục đích sinh lời được tính bằng đồng tiền (Trần Nhạn, 1995).
Theo Trần Văn Thông (2016), Sản phẩm du lịch là sự kết hợp hàng hóa và dịch vụ trên cơ sở khai thác hợp lý tài nguyên du lịch nhằm đáp ứng mọi nhu cầu cho du khách trong hoạt động du lịch. Mặt khác, theo Quốc hội (2017) thì Sản phẩm 7 du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch. Khái niệm về tài nguyên du lịch và tiềm năng du lịch Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn (Quốc hội, 2017).
Tài nguyên du lịch (TNDL) nhân văn là nhóm tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo do con người tạo ra. TNDL nhân văn gồm TNDL nhân văn vật thể và TNDL nhân văn phi vật thể. TNDL nhân văn vật thể gồm các di sản văn hóa thế giới, các di sản thế giới về tư liệu, các di tích lịch sử văn hóa và các công trình đương đại, các vật kỷ niệm, các cổ vật quý. TNDL nhân văn phi vật thể gồm: các di sản văn hóa truyền miệng và phi vật thể của nhân loại, nghệ thuật sản xuất hàng thủ công truyền thống, lễ hội, văn hóa ẩm thực, văn hóa nghệ thuật, tôn giáo, phong tục tập quán, các giá trị văn hóa liên quan tới dân tộc học, các phát minh, sáng kiến, văn học dân gian và thơ ca,… (Bùi Thị Hải Yến, 2012a).
Tham khảo Wiktionary, Tiềm năng là tổng hợp tất cả các điều kiện bên trong và bên ngoài có giá trị khai thác, sử dụng và phát triển. Hay, Tiềm năng là những thế mạnh mà chưa được khai thác (Nguyễn Như Ý, 2007). Tích hợp khái niệm về tiềm năng với hoạt động du lịch, tác giả định nghĩa ‘tiềm năng du lịch là một trong những điều kiện trực tiếp để phát triển du lịch; và tiềm năng du lịch sẽ bao hàm: vị trí địa lý, tài nguyên du lịch, con người, thị trường, các điều kiện về kinh tế - xã hội,…. Du lịch văn hóa và du lịch cộng đồng Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi (Quốc hội, 2017).
Tổ chức du lịch thế giới (WTO - World Tourism Organization), du lịch văn hóa là những chuyến đi mà mục đích chính hoặc mục đích bao gồm trong đó là thăm các địa điểm, sự kiện mà giá trị văn hóa, lịch sử của chúng khiến chúng trở thành một phần trong di sản văn hóa của một cộng đồng. Hay du lịch văn hóa là 8 loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở khai thác giá trị văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, tôn vinh giá trị văn hóa mới của nhân loại (Quốc hội, 2017). Theo tác giả, du lịch văn hóa có hai hình thái chính: Du lịch tìm hiểu bản sắc văn hóa (mục đích: khảo cứu, nghiên cứu, tìm hiểu bản sắc văn hóa vùng miền và đối tượng chủ yếu là các nhà nghiên cứu, học sinh – sinh viên); Du lịch tham quan văn hóa (du khách thường kết hợp giữa tham quan và nghiên cứu tìm hiểu văn hóa trong một chuyến đi và đối tượng khách rất phong phú). Tiềm năng và vai trò của khai thác tiềm năng văn hóa trong phát triển du lịch Tài nguyên du lịch là các yếu tố tự nhiên và nhân văn có ý nghĩa đối với việc phát triển du lịch, kích thích con người tìm đến tham quan và sử dụng dịch vụ tại địa phương.
Tiềm năng du lịch là TNDL đã được đánh giá là có khả năng khai thác phục vụ du lịch; từ đó định hướng hình thành sản phẩm du lịch và chuỗi cung ứng sản phẩm du lịch của địa phương. Điều này đồng nghĩa với việc, TNDL là nền tảng để tiềm năng du lịch phát triển thành sản phẩm du lịch. Tài nguyên Sản phẩm du lịch du lịch Tiềm năng du lịch (tài nguyên du lịch (yếu tố tự nhiên và (tài nguyên có khả tiềm năng đã được nhân văn đặc biệt, năng khai thác và khai thác để phục vụ thu hút khách du phát triển du lịch) khách du lịch) lịch) Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa Tài nguyên du lịch, Tiềm năng du lịch và Sản phẩm du lịch (Nguồn: tổng hợp của tác giả) Theo từ điển tiếng Việt thì, khai thác là hoạt động thu lấy những nguồn lợi sẵn có (Nguyễn Như Ý, 12007). Theo đó, khai thác tiềm năng là hoạt động sử dụng những yếu tố tiềm năng phục vụ cho con người nhằm mục đích sinh lợi.
Tương tự vậy, khai thác tiềm năng văn hóa trong phát triển du lịch được hiểu là hoạt động sử dụng các tài nguyên văn hóa vào hoạt động kinh doanh du lịch, từ đó mang đến lợi ích kinh tế cho người làm du lịch (cá nhân, đơn vị kinh doanh), cộng đồng và chính quyền địa phương. 9 Trong quyển Phát triển du lịch trên cơ sở khai thác hợp lý giá trị di sản văn hóa thế giới vật thể của Nguyễn Thị Thống Nhất (2016) thì “Khai thác hợp lý là việc khai thác nhưng vẫn giữ gìn được tài nguyên, đảm bảo tài nguyên không bị hư hại và vẫn đáp ứng nhu cầu của các thế hệ trong tương lai, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế, đảm bảo lợi ích cho cộng đồng và bền vững về môi trường”. Qua đó cho thấy, khai thác tài nguyên không phải là sản xuất mà là hoạt động chuyển đổi loại hình của cải và của cải đó phải vừa được bảo toàn giá trị vừa sinh lời. Vì vậy, việc khai thác hợp lý các tài nguyên cũng như tiềm năng du lịch sẵn có đều vô cùng quan trọng đối với bất kỳ quốc gia nào.
Điều này quan trọng là phải biết cách khai thác, khai thác như thế nào và khai thác bao nhiêu là đủ. Trong giai đoạn hiện nay và đặc biệt với những kinh nghiệm làm du lịch từ các địa phương thì, khai thác cần dựa trên quan điểm phát triển bền vững, bền vững về kinh tế, bền vững về môi trường và bền vững về xã hội. Từ đó, sẽ hạn chế sự suy thoái của tài nguyên, khắc phục ô nhiễm môi trường, giữ lại được đặc thù của địa phương, tăng cường phát triển kinh tế như mục đích chính của phát triển du lịch mang lại. Nhìn chung, hoạt động khai thác tiềm năng văn hóa vào việc phát triển du lịch không những có vai trò rất lớn trong nền kinh tế mà còn có ý nghĩa không nhỏ với các mặt trong đời sống xã hội của Việt Nam.
Khai thác có hiệu quả tiềm năng văn hóa vào hoạt động du lịch sẽ mang đến những lợi ích cụ thể, như: Giới thiệu và quảng bá tài nguyên văn hóa của nước nhà đến bạn bè thế giới, thúc đẩy sự hiểu biết giữa các nước với Việt Nam thông qua nét đẹp văn hóa truyền thống; Góp phần làm phong phú và đa dạng hóa các sản phẩm du lịch của địa phương và Việt Nam, từ đó tăng tính cạnh tranh ở thị trường du lịch cả trong và ngoài nước; Khôi phục và tôn tạo các di sản văn hóa, di tích lịch sử bị lãng quên hoặc có nguy cơ bị biến mất; Nhân rộng nét đẹp của tài nguyên nhân văn đến thế hệ mai sau thông qua các hoạt động giới thiệu, bảo tồn và tìm hiểu về tài nguyên văn hóa; Mang tài nguyên đến gần hơn với du khách nhằm mang lại giá trị sử dụng và giá trị kinh tế cho người dân địa phương, chủ sở hữu và ngân sách Nhà nước.