Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Hoàng Thị Thu Huyền với đề tài "Tích tụ ruộng đất trong nông nghiệp ở vùng Tây Nam Bộ", chuyên ngành Kinh tế Phát triển (mã số: 62.05), được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Thanh Sang tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (bảo vệ năm 2016).

Kể từ sau công cuộc Đổi mới năm 1986, đặc biệt là từ Nghị quyết 10 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI năm 1988 (Khoán 10), hộ nông dân được công nhận là đơn vị kinh tế tự chủ, quyền sử dụng đất được giao ổn định và lâu dài. Tuy nhiên, giai đoạn sau đó chứng kiến tốc độ tăng trưởng nông nghiệp có xu hướng chậm lại và luôn thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế chung. Cụ thể, năm 2009, kinh tế cả nước tăng trưởng 5,3% thì khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chỉ tăng 1,8% (giảm 3,2% so với giai đoạn 2000–2008); giai đoạn 2010–2014, tăng trưởng nông nghiệp trung bình đạt 3,22% trong khi mức tăng trưởng chung là 5,86%. Nông nghiệp nước ta vẫn chủ yếu dựa vào mô hình nông hộ với diện tích canh tác bình quân nhỏ lẻ, manh mún. Tại vùng Tây Nam Bộ (Đồng bằng sông Cửu Long) – trung tâm sản xuất lúa gạo, trái cây và thủy hải sản lớn nhất cả nước – đời sống nông dân vẫn gặp nhiều khó khăn; tỷ lệ hộ nghèo năm 2013 là 9,2% (dù đã giảm từ mức 39,6% năm 1998). Để nâng cao hiệu quả sản xuất và mức sống cư dân nông thôn, việc chuyển đổi sang sản xuất quy mô lớn với trình độ chuyên môn hóa cao đặt ra yêu cầu tất yếu về tích tụ ruộng đất.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: tích tụ ruộng đất là hiện tượng kinh tế có tác động xã hội sâu sắc, nhưng trước thời điểm thực hiện luận án, vấn đề này ở vùng Tây Nam Bộ chưa được nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện trên cả hai khía cạnh kinh tế và xã hội; các công trình trước đây chủ yếu lồng ghép trong các nghiên cứu tổng thể về đất đai toàn quốc hoặc chỉ giới hạn trong phạm vi một tỉnh đơn lẻ.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là đánh giá thực trạng và tác động của tích tụ ruộng đất đến hiệu quả sản xuất cùng đời sống kinh tế – xã hội nông thôn Tây Nam Bộ, đồng thời xác định các yếu tố ảnh hưởng nhằm đề xuất hệ thống giải pháp thúc đẩy tích tụ ruộng đất và giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh. Để thực hiện mục tiêu này, luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và thực tiễn về tích tụ ruộng đất trong nông nghiệp.
  2. Phân tích chính sách đất đai, thực trạng sử dụng đất đai và tích tụ ruộng đất ở vùng Tây Nam Bộ.
  3. Phân tích tác động của tích tụ ruộng đất đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp và đời sống kinh tế xã hội nông thôn Tây Nam Bộ.
  4. Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tích tụ ruộng đất vùng Tây Nam Bộ.
  5. Đề xuất giải pháp về tích tụ ruộng đất ở vùng Tây Nam Bộ.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là tích tụ ruộng đất trong nông nghiệp ở vùng Tây Nam Bộ, bao gồm thực trạng, tác động đến hiệu quả sản xuất và đời sống kinh tế – xã hội nông thôn, cùng các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tích tụ.

Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ ràng:

  • Phạm vi nội dung: Tập trung chủ yếu vào cấp độ hộ gia đình canh tác đất trồng lúa; đồng thời phân tích bổ sung một số chủ thể tích tụ ngoài hộ gia đình và nông sản ngoài lúa.
  • Phạm vi không gian: Thu thập và phân tích dữ liệu thứ cấp trên toàn bộ 13 tỉnh thuộc vùng Tây Nam Bộ; nghiên cứu thực địa định tính được tiến hành tại tỉnh Long An (vùng lõi Đồng Tháp Mười) tại 3 địa bàn đại diện gồm huyện Vĩnh Hưng, thị xã Kiến Tường và huyện Đức Hòa.
  • Phạm vi thời gian: Phân tích định tính bao quát từ năm 1993 đến thời điểm khảo sát năm 2013; phân tích định lượng sử dụng chuỗi số liệu Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) từ năm 2004 đến năm 2012 và dữ liệu Tổng điều tra Nông thôn, Nông nghiệp và Thủy sản các năm 2006, 2011.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã phân loại và điểm luận có hệ thống các nghiên cứu trong và ngoài nước theo 4 hướng tiếp cận chính:

Thứ nhất, hướng nghiên cứu về quyền đất đai và thị trường đất đai: De Soto (2000) khẳng định việc xác lập và hợp thức hóa quyền sở hữu tài sản giúp người nghèo tiếp cận vốn và thoát nghèo. Feder (2002) qua dữ liệu từ Thái Lan, Indonesia, Philippines và Brazil chỉ ra việc đảm bảo quyền đất đai gia tăng nguồn cung tín dụng và thúc đẩy đầu tư dài hạn. Deininger (2003) cho rằng hình thức sở hữu công cộng hay tư nhân không mang tính quyết định tuyệt đối bằng việc luật pháp đảm bảo các quyền sử dụng ổn định, lâu dài cho người canh tác; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang lại giá trị tương đương quyền sở hữu. Về thị trường thuê đất, Benjamin và Brandt (2002) tại Trung Quốc chứng minh thị trường cho thuê giúp chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp, thúc đẩy tích tụ ruộng đất và hình thành các vùng chuyên canh thương mại. Deininger và Jin (2005), Platteau (2002), Otsuka (2001) nhấn mạnh nếu quyền sử dụng đất không chắc chắn, các giao dịch thuê đất sẽ bị đình trệ.

Thứ hai, hướng nghiên cứu về quy mô ruộng đất và hiệu quả sản xuất: Mundlak, Larson và Butzer (1999) sử dụng hàm sản xuất với phương pháp hồi quy OLS và PCR xác định quy mô đất đai cùng máy móc, cơ sở hạ tầng, thủy lợi có tương quan thuận với hiệu quả sản xuất. Ngân hàng Thế giới (2008) chỉ ra năng suất phân bổ theo mùa ở các trang trại lớn cao hơn nông hộ nhỏ nhờ khả năng tiếp cận tín dụng và bảo hiểm. Ngược lại, Key và Roberts (2007) cho thấy hiệu suất không đổi theo quy mô là phổ biến ở các nước đang phát triển. Carter (1984), Benjamin và Brandt (2002), và Ellis (1993) chỉ ra mối quan hệ nghịch chiều giữa quy mô đất và năng suất khi không kiểm soát yếu tố chất lượng đất, đồng thời lập luận rằng nông hộ nhỏ tối ưu hóa chi phí lao động tự có tốt hơn so với trang trại lớn gặp khó khăn trong quản lý, giám sát.

Thứ ba, hướng nghiên cứu về tích tụ ruộng đất và phân hóa xã hội nông thôn: Deininger và Squire (1996) phân tích hệ số Gini tại Châu Mỹ La-tinh để chỉ ra sự bất bình đẳng thu nhập bắt nguồn từ việc phân bổ đất đai bất bình đẳng. Binswanger, Deininger và Feder (1993) khẳng định việc thu hồi, sung công đất hoặc thay đổi mục đích sử dụng đất thiếu cơ sở pháp lý bảo vệ người canh tác là nguyên nhân đẩy người nông dân vào bần cùng hóa.

Thứ tư, các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam và vùng Tây Nam Bộ:

  • Martin Ravallion và Dominique van de Walle (2008) từ dữ liệu VHLSS nhận định tình trạng không có đất có xu hướng tăng ở các hộ nghèo sau cải cách nhưng nhìn chung là nhân tố đi kèm quá trình chuyển đổi nghề nghiệp và giảm nghèo, dù tại ĐBSCL có hiện tượng phân tầng xã hội.
  • Deininger và Jin (2003, 2005) chứng minh thị trường chuyển nhượng và cho thuê đất ở Việt Nam phân bổ lại nguồn lực hiệu quả, trong đó mạng lưới an toàn xã hội và khả năng tiếp cận tín dụng giúp ngăn ngừa tình trạng bán đất do các cú sốc đời sống.
  • Marsh và MacAulay (2001, 2002) thuộc dự án ACIAR khảo sát 400 hộ tại 4 tỉnh (Hà Tây, Yên Bái, Bình Dương, Cần Thơ) nhận định việc chuyển nhượng chịu nhiều rào cản thuế, thủ tục; năng suất lao động tăng theo quy mô trang trại nhưng năng suất đất thì không.
  • Lâm Quang Huyên (2007) trong cuốn "Vấn đề ruộng đất ở Việt Nam" chỉ ra tích tụ ruộng đất vào các hộ có năng lực sinh lợi cao là quy luật khách quan của công nghiệp hóa.
  • Đặng Kim Sơn (2009) sử dụng dữ liệu VHLSS 2004, 2006 và Tổng điều tra nông nghiệp 2006, ứng dụng chỉ số Simpson đo lường độ phân mảnh đất đai, kết luận quy mô đất có tương quan thuận nhất quán với năng suất và sản lượng lúa tại ĐBSCL (khác với ĐBSH), và hộ gia đình cần có quy mô từ 0,6 ha trở lên mới bảo đảm gia tăng thu nhập khi mở rộng đất.
  • IPSARD (2009) chỉ ra hiện tượng "đóng băng ruộng đất" ở miền Bắc khi lao động phi nông nghiệp không chuyển nhượng đất, trong khi ACIAR và Đại học Nông nghiệp I Hà Nội (2007) nhấn mạnh số mảnh ruộng tăng làm giảm năng suất.
  • Bùi Quang Dũng (2011) so sánh Thái Bình, Hải Dương với An Giang, Hậu Giang, chỉ ra có trên 34% hộ ở ĐBSCL có đất nhờ mua lại, trong khi ĐBSH dưới 1%.
  • Vũ Tuấn Anh (2013) kiến nghị giao đất ổn định lâu dài và xóa bỏ hạn điền, thay bằng công cụ kinh tế.
  • Các nghiên cứu chuyên sâu tại Tây Nam Bộ: Lê Cảnh Dũng (2010) tại An Giang chỉ ra hộ trên 3 ha có chi phí sản xuất/ha thấp hơn hộ dưới 3 ha; Lê Thị Thiên Hương (2008) tại An Giang xác định trang trại quy mô 5–6 ha có hiệu quả kinh tế cao nhất; Lê Thanh Sang (2008) với khảo sát 900 hộ chỉ ra dịch chuyển đất sang nhóm tích tụ diễn ra tương đối chậm và đề xuất chính sách chủ động chuyển đổi nghề nghiệp cho hộ mất đất; Trần Hữu Quang (2013) khảo sát 300 hộ tại 3 tỉnh khẳng định tâm thức giữ đất chiếm 83% và 46% muốn dùng tiền tích lũy mua thêm đất; Trần Thị Thu Nguyệt (2008) và Trần Thế Như Hiệp (2009) phân tích sinh kế của hộ không đất và tác động của bán đất tại huyện Tri Tôn, Thoại Sơn (An Giang).

Vị trí của luận án: Kế thừa các khung lý thuyết và kết quả thực nghiệm trước đó, luận án đi sâu giải quyết khoảng trống nghiên cứu toàn diện cho vùng Tây Nam Bộ, kết hợp phương pháp kinh tế lượng trên chuỗi dữ liệu bảng đa kỳ (2004–2012) với điều tra xã hội học định tính thực địa, làm rõ đồng thời tác động kinh tế (năng suất, thu nhập) và tác động xã hội (phân tầng, sinh kế), cùng 8 nhóm yếu tố tác động đến tích tụ ruộng đất.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên các học thuyết kinh tế và xã hội học:

  1. Lý luận Mác về tích tụ và tập trung tư bản (Chu Văn Cấp – Trần Bình Trọng, 2002), trong đó tích tụ ruộng đất là quá trình gia tăng tư bản dưới hình thức hiện vật trong nông nghiệp. Vũ Trọng Khải (2008) phân định rõ tích tụ ruộng đất gắn liền với thị trường đất đai (mua bán quyền sử dụng đất hoặc thuê đất), phân biệt với dồn điền đổi thửa (chỉ giảm số thửa, tăng quy mô từng thửa mà không làm tăng tổng diện tích nông hộ).
  2. Lý thuyết Cổ điển của David Ricardo (1817) về quy luật lợi tức giảm dần do đất đai là yếu tố sản xuất cố định.
  3. Lý thuyết Ba giai đoạn phát triển nông nghiệp của Todaro (1990): từ nông nghiệp tự cấp tự túc sang đa dạng hóa và tiến tới nông nghiệp hiện đại, thương mại hóa quy mô lớn.
  4. Lý thuyết Lợi thế kinh tế theo quy mô (Economies of Scale) (David Begg, 2005) và Lý thuyết Sản xuất nông nghiệp (Mundlak, 2000).
  5. Các mô hình nông hộ (Mendola, 2007): mô hình tối đa hóa lợi nhuận, mô hình tối đa hóa lợi ích và mô hình nông hộ sợ rủi ro (nguyên tắc "an toàn là trên hết").
  6. Khung sinh kế bền vững (DFID) và Công cụ đo lường phân hóa xã hội (Đường cong Lorenz, hệ số Gini).

Luận án định nghĩa tích tụ ruộng đất (land accumulation) là sự gia tăng quy mô ruộng đất canh tác lúa của nông hộ theo thời gian vượt quá hạn mức giao đất 3 ha (theo Luật Đất đai 2003 và 2013) thông qua các hành vi: khai hoang, thừa kế, mua, thuê, và nhận cầm cố.

Mô hình kinh tế lượng Dạng hàm / Phương pháp Biến phụ thuộc Các biến độc lập chính
Mô hình 1A: Năng suất (MH1A1, MH1A2) Cobb-Douglas mở rộng, Hồi quy Pooled-OLS trên dữ liệu bảng $\ln(nangsuat)$ (kg/ha) $\ln(tuoi)$, $\ln(hocvan)$, $gioitinh$, $kinhhoa$, $\ln(dientich)$, $\ln(tscdsxbq)$, $\ln(laodongbq)$, $\ln(chiphibq)$, $thientai$, $gt1$ (đường ô tô), $gt2$ (đường thủy), $\ln(tuoitieuxa)$.
Mô hình 1B: Thu nhập (MH1B1, MH1B2) Cobb-Douglas mở rộng, Hồi quy Pooled-OLS trên dữ liệu bảng $\ln(thunhap)$ (nghìn đồng/người/tháng) Các biến tương tự Mô hình 1A.
Mô hình 2A: Thay đổi quy mô ruộng đất (MH2A) Hồi quy tuyến tính OLS $tdquymo$ (ha) ($S_{t} - S_{t-1}$) Đặc điểm cá nhân chủ hộ ($X_{1}$); Yếu tố gốc thời điểm $t$ ($X_{2}$: diện tích, TSCĐ, thu nhập, lao động, tỷ lệ thu nhập phi nông nghiệp); Yếu tố biến động ($X_{3}$: thay đổi TSCĐ, thay đổi thu nhập, thay đổi lao động, thay đổi vốn vay, thay đổi tỷ lệ thu nhập phi nông nghiệp); Yếu tố ngoại vi ($X_{4}$: tưới tiêu, giao thông, tỷ lệ chuyển nhượng đất xã).
Mô hình 2B: Xác suất tích tụ ruộng đất (MH2B) Hồi quy Binary Logit $tichtu$ ($Y_i = 1$ nếu quy mô tăng lên >3 ha; $Y_i = 0$ nếu ngược lại) Tập hợp các biến độc lập $X_1, X_2, X_3, X_4$ tương tự Mô hình 2A.

Phương pháp định tính: Sử dụng kỹ thuật chọn mẫu có chủ đích và thuận tiện, tiến hành phỏng vấn sâu tại tỉnh Long An với 24 cuộc phỏng vấn hộ gia đình, 02 cuộc phỏng vấn nhóm và 16 cuộc phỏng vấn cán bộ địa phương từ cấp xã đến cấp tỉnh tại 3 huyện/thị (Vĩnh Hưng, TX Kiến Tường, Đức Hòa).

Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp từ VHLSS (2004, 2006, 2008, 2010, 2012), Tổng điều tra Nông thôn, Nông nghiệp và Thủy sản (2006, 2011), Niên giám Thống kê; Dữ liệu sơ cấp từ cuộc khảo sát thực địa năm 2013 tại Long An.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong nước và quốc tế về 4 trụ cột: quyền sở hữu và sử dụng đất, mối quan hệ giữa quy mô đất và hiệu quả kinh tế, hoạt động của thị trường đất đai, cùng các tác động phân hóa xã hội nông thôn do tích tụ đất đai. Tác giả chỉ ra các điểm đồng thuận và tranh luận trong y văn, từ đó xác lập tính cần thiết và khoảng trống nghiên cứu cho đề tài luận án tại vùng Tây Nam Bộ.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn về tích tụ ruộng đất trong nông nghiệp ở vùng Tây Nam Bộ

Chương 2 trình bày các khái niệm nền tảng, phân biệt tích tụ ruộng đất với tập trung đất đai và dồn điền đổi thửa. Tác giả luận giải các khung lý thuyết kinh tế và xã hội học, phân tích kinh nghiệm tích tụ ruộng đất của một số quốc gia trên thế giới, xây dựng khung phân tích tương tác đa chiều và thiết lập phương trình toán học cho 2 nhóm mô hình kinh tế lượng (Mô hình đánh giá hiệu quả sản xuất và Mô hình phân tích các yếu tố ảnh hưởng).

Chương 3: Thực trạng, tác động của tích tụ ruộng đất và các yếu tố ảnh hưởng đến tích tụ ruộng đất trong nông nghiệp ở vùng Tây Nam Bộ

Chương 3 trình bày các kết quả phân tích định lượng và định tính thực địa:

  • Thực trạng sử dụng đất và tích tụ: Phân tích cơ cấu đất nông nghiệp, biến động sử dụng đất giai đoạn 2006–2011 (Bảng 3.1, 3.2, 3.3). Phân tích nguồn gốc đất canh tác cây hàng năm năm 2008 (Bảng 3.12) cho thấy nguồn gốc đất chủ yếu từ thừa kế, khai hoang và mua nhượng quyền sử dụng. Tỷ lệ hộ tham gia thị trường thuê đất tăng dần qua các năm 2004–2012 (Bảng 3.15). Số lượng và cơ cấu trang trại phân theo lĩnh vực sản xuất đến 01/7/2011 (Bảng 3.16, 3.17) và kết quả sản xuất kinh doanh bình quân trang trại (Bảng 3.18) cho thấy quy mô sử dụng đất bình quân của trang trại Tây Nam Bộ lớn hơn nhiều so với các vùng khác.
Chỉ tiêu thống kê / Kết quả mô hình Dữ liệu / Kết quả ước lượng thực nghiệm
Cơ cấu hộ nông nghiệp theo quy mô đất sản xuất (Bảng 3.11) Vùng Tây Nam Bộ có tỷ lệ hộ có diện tích sản xuất từ 2 ha trở lên và trên 3 ha cao nhất cả nước.
Thu nhập, chi tiêu và phân hóa giàu nghèo (Bảng 3.4, 3.6, Biểu đồ 3.1) Thu nhập bình quân đầu người tăng liên tục 2002–2012; hệ số Gini thu nhập phản ánh sự chênh lệch gia tăng giữa nhóm 1 (nghèo nhất) và nhóm 5 (giàu nhất).
Hồi quy Năng suất lúa (Bảng 3.19 - MH1A1; Bảng 3.21 - MH1A2) Biến $\ln(dientich)$ có hệ số hồi quy dương mang ý nghĩa thống kê; diện tích đất canh tác tăng tác động thuận chiều đến năng suất lúa bình quân trên 1 ha.
Hồi quy Thu nhập hộ gia đình (Bảng 3.20 - MH1B1; Bảng 3.22 - MH1B2) Biến $\ln(dientich)$ tác động dương có ý nghĩa thống kê đến thu nhập bình quân đầu người của hộ nông dân.
Tình trạng hộ nông thôn không đất (Bảng 3.24, 3.25, 3.26) Tỷ lệ hộ không có đất sản xuất nông nghiệp có xu hướng gia tăng; diện tích đất sở hữu tập trung cao ở nhóm ngũ phân vị thu nhập cao nhất.
Hồi quy Yếu tố ảnh hưởng (Bảng 3.27 - MH2A; Bảng 3.28 - MH2B) Các biến: diện tích gốc, vốn vay đầu tư, lao động nông nghiệp, tài sản cố định tác động thuận chiều; tỷ lệ thu nhập phi nông nghiệp tác động nghịch chiều đến tích tụ ruộng đất.
  • Tám nhóm yếu tố ảnh hưởng đến tích tụ ruộng đất Tây Nam Bộ:
    1. Đặc điểm nhân khẩu học hộ gia đình: Tuổi, giới tính, dân tộc, trình độ học vấn của chủ hộ.
    2. Nguồn lực sản xuất của hộ: Vốn vay đầu tư, tài sản cố định dùng cho sản xuất, số lượng lao động nông nghiệp.
    3. Sinh kế hộ gia đình: Mức độ phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp so với cơ hội việc làm phi nông nghiệp.
    4. Điều kiện sinh thái: Độ phì nhiêu của đất, nguồn nước ngọt, mức độ chịu ảnh hưởng bởi thiên tai.
    5. Cơ sở hạ tầng nông thôn: Hệ thống thủy lợi tưới tiêu, mạng lưới giao thông đường bộ và đường thủy đến thôn ấp.
    6. Chính sách: Quy định hạn mức giao đất (hạn điền), thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chính sách tín dụng.
    7. Thị trường đất đai và nông sản: Sự phát triển của thị trường chuyển nhượng, thị trường thuê đất, giá cả tiêu thụ và chuỗi chế biến xuất khẩu lúa gạo.
    8. Tập quán, lối sống cư dân Tây Nam Bộ: Tập quán di cư khai hoang, thói quen làm thuê linh hoạt, tâm thức sở hữu và chuyển giao đất đai cho con cháu.

Chương 4: Giải pháp về tích tụ ruộng đất trong nông nghiệp ở vùng Tây Nam Bộ

Chương 4 phân tích các quan điểm của Đảng và chính sách Nhà nước, bối cảnh hội nhập quốc tế (cam kết WTO, các hiệp định FTA, TPP, Cộng đồng ASEAN), từ đó đề xuất hệ thống giải pháp gồm 2 nhóm chính:

  • Nhóm giải pháp thúc đẩy tích tụ ruộng đất: Hoàn thiện khung pháp lý về chuyển đổi, chuyển nhượng và thuê quyền sử dụng đất; mở rộng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp; đơn giản hóa thủ tục hành chính về đất đai; phát triển thị trường tín dụng phục vụ mua sắm máy móc và mở rộng quy mô; đầu tư hạ tầng giao thông, thủy lợi nội đồng; phát triển thị trường nông sản và liên kết chuỗi giá trị.
  • Nhóm giải pháp đối với các vấn đề xã hội liên quan đến tích tụ ruộng đất: Đào tạo nghề nông thôn và tạo việc làm phi nông nghiệp; thiết lập mạng lưới an sinh xã hội cho nhóm hộ nông dân không còn đất sản xuất; hỗ trợ tín dụng chuyển đổi sinh kế cho các hộ bán đất do biến cố đời sống.

Kết quả và những đóng góp mới

Căn cứ nội dung tự công bố trong luận án, các đóng góp mới về mặt học thuật và thực tiễn bao gồm 5 điểm:

  1. Về cơ sở lý luận: Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý thuyết, thực tiễn về tích tụ ruộng đất trong nông nghiệp; phân biệt cụ thể giữa tích tụ ruộng đất, tập trung đất đai và dồn điền đổi thửa trong bối cảnh cụ thể của nền kinh tế chuyển đổi tại Việt Nam.
  2. Về đánh giá tác động kinh tế: Bằng việc vận dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas mở rộng trên số liệu VHLSS, luận án chứng minh bằng định lượng rằng quy mô diện tích đất canh tác có tác động thuận chiều, có ý nghĩa thống kê đến cả hai chỉ tiêu hiệu quả: năng suất lúa và thu nhập bình quân đầu người của hộ nông dân Tây Nam Bộ.
  3. Về đánh giá tác động xã hội: Chỉ ra tính hai mặt của quá trình tích tụ ruộng đất tại Tây Nam Bộ; bên cạnh việc nâng cao thu nhập và tích lũy làm giàu cho các nông hộ có năng lực mở rộng sản xuất, tích tụ ruộng đất cũng thúc đẩy sự phân tầng xã hội, nới rộng khoảng cách giàu nghèo và làm mất sinh kế truyền thống của một bộ phận nông dân bị giảm hoặc mất đất sản xuất.
  4. Về nhận diện các nhân tố tác động: Kết hợp mô hình hồi quy OLS, Binary Logit và phỏng vấn sâu thực địa để xác định 8 nhóm yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô và xác suất tích tụ ruộng đất tại Tây Nam Bộ.
  5. Về khuyến nghị giải pháp: Xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ gồm 2 nhóm: nhóm giải pháp thúc đẩy tích tụ ruộng đất phục vụ sản xuất lớn và nhóm giải pháp xử lý các hệ lụy xã hội nhằm đảm bảo sinh kế bền vững cho lao động nông thôn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Các hạn chế được văn bản luận án chỉ rõ xuất phát từ giới hạn cơ sở dữ liệu và phạm vi nghiên cứu:

  • Bộ dữ liệu VHLSS năm 2010 có sự thay đổi lớn về mẫu chuẩn (master sample) và thiết kế bảng hỏi so với giai đoạn 2004–2008, tạo ra sự đứt gãy dữ liệu khiến mô hình đánh giá tác động kinh tế phải tách riêng làm 2 giai đoạn (2004–2008 và 2010–2012) với một số biến độc lập không đồng nhất hoàn toàn.
  • Dữ liệu VHLSS các kỳ 2010 và 2012 bị thiếu một số biến số cấp xã, do đó mô hình phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tích tụ ruộng đất chỉ chạy được trên tập dữ liệu 2004, 2006 và 2008.
  • Giai đoạn 2010–2012 chỉ ghi nhận 1,7% số hộ gia đình có diện tích tăng lên trên 3 ha theo tiêu chí tích tụ, không đủ kích thước mẫu để ước lượng mô hình Binary Logit cho giai đoạn này.
  • Nghiên cứu định tính thực địa chỉ tập trung phỏng vấn tại 1 tỉnh (Long An) với đối tượng cây trồng chính là lúa; chưa mở rộng khảo sát định tính sâu đối với các nhóm hộ chuyên canh cây ăn trái hoặc nuôi trồng thủy sản tại các tiểu vùng sinh thái khác của Tây Nam Bộ.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng: ứng dụng các bộ dữ liệu khảo sát mới hơn để phân tích chuỗi thời gian dài sau khi Luật Đất đai 2013 đi vào thực tiễn; mở rộng đánh giá tích tụ ruộng đất trên các phân khúc đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản và nghiên cứu các mô hình liên kết hợp tác kiểu mới ngoài kinh tế hộ.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn:

  • Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học: Cung cấp khung phân tích mẫu mực trong việc kết hợp tiếp cận kinh tế học và xã hội học, phương pháp xây dựng mô hình hồi quy Pooled-OLS trên dữ liệu bảng VHLSS và kỹ thuật lồng ghép định lượng với phỏng vấn sâu thực địa.
  • Đối với giảng viên và cơ sở nghiên cứu: Cung cấp nguồn tư liệu thực chứng phong phú, có hệ thống về thực trạng đất đai, kinh tế trang trại và đời sống nông thôn Tây Nam Bộ giai đoạn 1993–2013.
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ thực tiễn trực tiếp cho việc đánh giá tác động của hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp (hạn điền), thiết kế chính sách an sinh xã hội, đào tạo nghề và chuyển đổi sinh kế cho người dân không có đất tại Đồng bằng sông Cửu Long.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả luận án định nghĩa như thế nào về hộ có tích tụ ruộng đất? Hộ có tích tụ ruộng đất được định nghĩa là hộ canh tác lúa có quy mô diện tích đất sản xuất tăng lên đạt mức trên 3 ha ở thời điểm khảo sát hiện tại so với thời điểm khảo sát trước đó (căn cứ theo hạn mức giao đất nông nghiệp đối với đất trồng cây hàng năm không quá 3 ha quy định trong Luật Đất đai 2003 và 2013), thông qua các phương thức: khai hoang, thừa kế, mua, thuê hoặc nhận cầm cố.

2. Kết quả phân tích kinh tế lượng cho thấy diện tích đất canh tác tác động như thế nào đến năng suất và thu nhập? Kết quả ước lượng các mô hình hồi quy Cobb-Douglas mở rộng (MH1A1, MH1A2, MH1B1, MH1B2) trên dữ liệu VHLSS cho thấy biến diện tích đất canh tác ($\ln(dientich)$) có hệ số hồi quy mang dấu dương và có ý nghĩa thống kê ở cả hai giai đoạn 2004–2008 và 2010–2012. Điều này khẳng định việc mở rộng quy mô ruộng đất tác động thuận chiều đến cả năng suất lúa bình quân trên 1 ha và thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình tại vùng Tây Nam Bộ.

3. Khảo sát định tính thực địa của luận án được triển khai tại địa bàn nào và dung lượng mẫu ra sao? Nghiên cứu định tính được tiến hành năm 2013 tại tỉnh Long An (vùng lõi Đồng Tháp Mười) trên 3 địa bàn đại diện gồm huyện Vĩnh Hưng, thị xã Kiến Tường và huyện Đức Hòa. Tổng dung lượng mẫu khảo sát định tính gồm 24 cuộc phỏng vấn sâu hộ gia đình, 02 cuộc phỏng vấn nhóm và 16 cuộc phỏng vấn sâu cán bộ địa phương từ cấp xã đến cấp tỉnh.

4. Vì sao mô hình phân tích yếu tố ảnh hưởng (MH2A, MH2B) không sử dụng được dữ liệu VHLSS 2010–2012? Do cuộc điều tra VHLSS 2010 thay đổi mẫu chuẩn và rút ngắn bảng hỏi, dẫn đến thiếu thông tin ở một số biến số cấp xã. Đồng thời, tỷ lệ hộ gia đình có diện tích tăng lên trên 3 ha trong giai đoạn 2010–2012 chỉ đạt 1,7%, không đủ điều kiện cỡ mẫu để chạy mô hình Binary Logit (MH2B). Vì vậy, tác giả chỉ sử dụng dữ liệu các năm 2004, 2006 và 2008 cho nhóm mô hình này.

5. Luận án đề xuất những giải pháp gì đối với nhóm nông dân bị mất đất sản xuất? Tác giả đề xuất nhóm giải pháp xã hội gồm: tổ chức đào tạo nghề phi nông nghiệp gắn với nhu cầu thị trường; tạo điều kiện chuyển đổi việc làm sang khu vực công nghiệp và dịch vụ; hỗ trợ nguồn vốn tín dụng ưu đãi để tạo sinh kế mới; và hoàn thiện các mạng lưới bảo trợ xã hội giúp nông dân ứng phó với các cú sốc đời sống, tránh việc phải bán đất do rơi vào bần cùng hóa.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Thị Thu Huyền là công trình nghiên cứu hệ thống và toàn diện về hiện tượng tích tụ ruộng đất trong nông nghiệp tại vùng Tây Nam Bộ. Bằng việc kết hợp phương pháp kinh tế lượng trên chuỗi dữ liệu VHLSS (2004–2012) với khảo sát xã hội học định tính tại Long An, luận án đã chứng minh bằng thực nghiệm tác động tích cực của tích tụ đất đai đến năng suất lúa và thu nhập hộ nông dân, đồng thời chỉ ra các hệ lụy phân tầng xã hội và sinh kế nông thôn nảy sinh. Công trình đã nhận diện 8 nhóm yếu tố tác động và đưa ra hai nhóm giải pháp đồng bộ nhằm vừa thúc đẩy sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, vừa bảo đảm an sinh xã hội bền vững cho cư dân nông thôn vùng Đồng bằng sông Cửu Long.