CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Để làm cơ sở cho việc nghiên cứu, chương này tổng quan các nghiên cứu đi trước trên thế giới về chủ đề đất đai và tích tụ ruộng đất trên các khía cạnh như quyền sở hữu và quyền sử dụng đất, thị trường đất đai, quy mô đất đai và hiệu quả sản xuất, sự phân hóa ở nông thôn từ tích tụ đất đai. Ở Việt Nam, tích tụ ruộng đất cũng là chủ đề nổi lên trong khoảng thời gian 20 năm trở lại đây, có khá nhiều các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước nghiên cứu các vấn đề liên quan đến ruộng đất và tích tụ ruộng đất ở Việt Nam nói chung và Tây Nam Bộ nói riêng, đây cũng là nội dung được tổng quan trong chương này. Nghiên cứu nước ngoài về đất đai và tích tụ ruộng đất trong nông nghiệp 1. Quyền về đất đai Quyền về đất đai được đề cập chủ yếu trong các nghiên cứu gồm quyền sử hữu và quyền sử dụng.
Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Chủ sở hữu có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản. Quyền sử dụng là quyền của chủ sở hữu khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản và chỉ là một trong ba quyền của chủ sở hữu. Trong nông nghiệp, quyền về đất đai là một trong những yếu tố để hộ gia đình quyết định sẽ đầu tư như thế nào (dài hạn hay ngắn hạn, nhiều hay ít) cho sản xuất, nhất là khi quyền sở hữu và sử dụng tách rời nhau.
Quyền sở hữu đất đai trên thế giới phổ biến ở hai dạng là sở hữu công cộng và sở hữu tư nhân và tùy vào mỗi quốc gia hay mỗi giai đoạn lịch sử mà hình thức nào là chủ yếu. De Soto (2000) cho rằng việc xác định rõ ràng quyền sở hữu về tài sản và vốn đầu tư giúp các nền kinh tế phát triển thành công và việc hợp thức hóa quyền sở hữu tài sản của người nông dân sẽ giúp họ thoát khỏi tình trạng luẩn quẩn của đói nghèo. Kết quả nghiên cứu về nông nghiệp Thái Lan, Indonesia, Philippines và Brazil cũng cho một kết luận tương tự, đó là đảm bảo quyền sở hữu về đất là một yếu tố làm gia tăng nguồn cung tín dụng, từ đó góp phần tăng năng suất. Ngoài ra 6 đầu tư vào đất cũng tăng khi mà thời hạn sử dụng đất được đảm bảo chắc chắn (Feder, 2002).
Tuy nhiên, theo Deininger (2003), hiện nay chưa có bằng chứng thực tiễn để chứng minh chế độ sở hữu nào chiếm hoàn toàn ưu thế trên thế giới. Ở nhiều nước phát triển, sở hữu tư nhân về đất đai nhưng nhà nước vẫn có những quy định để hạn chế một số quyền của người sở hữu và vẫn có thể can thiệp hoặc thu hồi đất vì mục tiêu môi trường hay phục vụ lợi ích cộng đồng. Trong khi đó ở một số nước, đất đai thuộc sở hữu công cộng nhưng quyền sử dụng đất lại được quy định rất rộng rãi không khác bao nhiêu so với quyền sở hữu bị hạn chế. Do đó, có thể thấy rằng hình thức sở hữu công cộng hay tư nhân không quan trọng bằng việc đảm bảo cho người sở hữu (hay sử dụng) có quyền nhất định và có cơ sở về mặt luật pháp về quyền của mình để họ cảm thấy yên tâm đầu tư sản xuất.
Quy mô ruộng đất và hiệu quả sản xuất Khi xem xét 8 nghiên cứu khác nhau có sử dụng hàm sản xuất với phương pháp hồi quy tương quan giữa hiệu quả sản xuất và các yếu tố liên quan (phương pháp hồi quy OLS-ordinal least square và PCR -principal components regression), Mundlak, Larson và Butzer (1999) cho kết quả là các biến độc lập chủ yếu có ý nghĩa thống kê gồm: cơ sở hạ tầng, máy móc, thiết bị, thủy lợi, cây trồng và vật nuôi, trình độ học vấn chủ hộ, đất, trình độ kỹ thuật, lao động, nghiên cứu, phân bón. Ngân hàng thế giới (2008) cũng chỉ ra năng suất trên một diện tích đất phân bổ theo mùa có thể cao hơn ở các nông trại lớn so với các tiểu nông. Nguyên nhân do thị trường bảo hiểm và tín dụng không hoàn thiện cản trở các tiểu nông áp dụng kỹ thuật sản xuất cần nhiều vốn hay các sản phẩm có giá trị cao. Tuy nhiên, theo một số nghiên cứu khác thì hiệu suất không đổi theo quy mô.
Key and Roberts (2007) ước lượng hàm sản xuất nông nghiệp dựa trên số liệu của các nước đang phát triển đã cho thấy hiệu suất không đổi theo quy mô là phổ biến. Nghiên cứu của Carter (1984), Benjamin và Brandt (2002) còn chỉ ra mối quan hệ ngược chiều giữa quy mô ruộng đất và năng suất, tức là sản lượng trung bình sẽ giảm khi quy mô đất tăng. Nguyên nhân của tình trạng này là do yếu tố chất lượng đất không được quan sát trong quá trình ước lượng. Cùng quan điểm, Ellis (1993) cũng cho rằng tập trung ruộng đất sẽ dẫn đến năng suất đất giảm.
Lý do là với quy 7 mô nhỏ người nông dân sẽ cố gắng sử dụng đất một cách tối ưu, tiết kiệm chi phí nên có hiệu quả cao hơn. Trong khi đó, các trang trại lớn cần có nguồn tín dụng và nguồn cung cấp đầu vào lớn hơn, việc quản lý và giám sát khó khăn hơn do đó hiệu quả sẽ thấp hơn. Như vậy việc phân phối nguồn lực sẽ không hiệu quả vì nhiều nước đang phát triển nguồn lực đất đai và vốn khan hiếm trong khi lao động lại dồi dào. Như vậy tích tụ ruộng đất để có quy mô lớn có thể là giải pháp cho tăng trưởng nông nghiệp nhưng không phải là giải pháp duy nhất.
Và khi quy mô đất đai lớn hơn thì một bộ phận lao động sẽ phải rút khỏi khu vực nông nghiệp. Họ sẽ đi đâu, làm gì? Và các vấn đề xã hội nảy sinh ra sao? Đó là vấn đề cần giải quyết song song với việc tích tụ đất đai cho sản xuất lớn. Thị trường đất đai Một trong những điều kiện để thúc đẩy tích tụ ruộng đất là thị trường đất đai. Trên lý thuyết thì khi xác định rõ ràng quyền sở hữu đất sẽ làm cho thị trường đất đai phát triển.
Tuy nhiên, qua nghiên cứu về sự phát triển của thị trường đất ở các nước đang phát triển, Deininger (2003) đã khẳng định rằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có tác dụng tương tự như quyền sở hữu. Do đó nếu là quyền sử dụng thì thời gian sử dụng phải đảm bảo cho người nông dân dám đầu tư dài hạn. Thị trường đất đai bao gồm cả thị trường chuyển nhượng và thị trường cho thuê. Ở một số quốc gia quyền sở hữu và sử dụng đất tách rời nhau và không có sở hữu tư nhân về đất, do đó trong trường hợp này thị trường cho thuê đóng một vai trò quan trọng.
Nghiên cứu ở Trung Quốc cho thấy cho thuê đất đã làm thay đổi cơ cấu nghề nghiệp ở khu vực nông thôn, thu nhập cho cả người thuê và cho thuê đều tăng. Chính sự phát triển của thị trường cho thuê đất đã thúc đẩy tích tụ và tập trung ruộng đất và phát triển các vùng chuyên canh mang tính thương mại cao từ đó tăng năng suất và cải thiện thu nhập (Benjamin và Brand, 2002). Nhưng tồn tại một vấn đề là nếu việc sử dụng đất không được đảm bảo hoặc cản trở cho việc thuê đất đai, các giao dịch cho thuê đất sẽ không được thực hiện đầy đủ. Nghiên cứu của Deininger và Jin (2005), Platteau (2002) và Otsuka (2001) cũng có kết luận tượng tự khi sở hữu đất không được đảm bảo thì xu hướng thuê đất giảm và hạn chế các giao dịch.
Hơn thế nữa, thời hạn sử dụng đất không chắc chắn đã ngăn cản đầu tư, chuyển giao đất, quản lý nguồn lực. 8 Rõ ràng là thị trường đất đai, nhất là thị trường cho thuê đất góp phần thúc đấy tích tụ ruộng đất, tăng năng suất và tăng thu nhập cho hộ gia đình. Nhưng việc đảm bảo quyền về đất đai ở nhiều quốc gia đang phát triển chưa thực sự tạo động lực cho thị trường đất đang phát triển. Tích tụ ruộng đất và phân hóa ở nông thôn Deininger và Squire (1996) trong nghiên cứu về phân phối thu nhập ở các nước đang phát triển đã phát hiện ra rằng, khoảng cách thu nhập đang ngày một gia tăng giữa nông thôn và thành thị và ở ngay trong khu vực nông thôn.
Kết quả cho thấy, khu vực Châu Mỹ La tinh có hệ số Gini cao nhất và phản ánh mức độ bất bình đẳng về thu nhập là lớn nhất. Một trong những lý do là ảnh hưởng của việc phân bổ đất và ngày càng có nhiều người bị mất đất. Việc đuổi người sử dụng đất hay thay đổi mục đích sử dụng đất trước khi có cơ sở pháp lý đảm bảo quyền lợi cho người sử dụng đất, hoặc cho phép sung công đất đang được sử dụng làm cho những người sử dụng đất trở nên nghèo khó hơn (Binswanger, Deininger and Feder, 1993). Như vậy, những nghiên cứu về đất đai trong nông nghiệp và các vấn đề liên quan ở trên cho thấy: Thứ nhất là xác lập quyền sở hữu và sử dụng đất đai đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định đầu tư sản xuất của nông dân.
Vấn đề không nằm ở hình thức sở hữu mà ở chỗ thực chất người dân có quyền như thế nào và thời hạn bao lâu với đất đai của mình. Thứ hai là tích tụ ruộng đất để có quy mô lớn có thể là giải pháp cho tăng trưởng nông nghiệp. Thứ ba là quá trình tích tụ ruộng đất phải gắn với phát triển thị trường đất đai và giải quyết những vấn đề xã hội nảy sinh như sự bất bình đẳng thu nhập, mất đất, nghèo khó, thất nghiệp… 1. Các nghiên cứu trong nước về tích tụ ruộng đất và các vấn đề liên quan 1.
Nghiên cứu của các tổ chức và cá nhân nước ngoài Với các tổ chức và cá nhân nước ngoài, thì “thời kỳ chuyển đổi” ở Việt Nam được quan tâm nghiên cứu khá nhiều trong đó có vấn đề về đất đai. 9 Trong nghiên cứu một số vấn đề về đất đai nông nghiệp trong thời kỳ chuyển đổi ở nông thôn Việt Nam, dựa trên bộ dữ liệu Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam, Martin Ravallion và Dominique van de Walle (2008) đã chỉ ra tình trạng không có đất nông nghiệp có xu hướng gia tăng trong số các hộ nghèo ở Việt Nam giai đoạn sau cải cách.