ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Đặt vấn dé Từ khi thực hiện nghị quyết VI của TW khóa VI, kinh tế NN nông thôn có những chuyển biến lớn. Năng suất cây trồng vật nuôi tiếp tục tăng, KHKT ngày càng được áp dụng phổ biến ở nông hộ. Trong đó ngành chăn nuôi, đặc biệt ngành chăn nuôi bồ cũng tăng nhưng còn ở tốc độ thấp khoảng 4% hàng năm. Cụ thể năm 1990 đạt được 3,1 triệu con, năm 2000 đạt được 4,1 triệu con và năm 2004 đạt được 4,9 triệu con (Niên giám thống kê Việt Nam).
Trong khi đó, nhu cầu tiêu dùng thịt của người dân ngày càng cao. Mức tiêu thụ thịt hơi bình quân đầu người trên năm tăng từ 15 kg trong năm 1990 lên 25 kg vào năm 2002. Mặt khác tốc độ tăng nhu cầu vệ sản phẩm chăn nuôi tương quan rất chặt chẽ với thu nhập, chi tiêu, thể hiện ở hệ số co giản của chi tiêu khá cao đối với các sản phẩm thịt, chẳng hạn thịt bò hệ số co giản của chỉ tiêu là 0,852% (theo Đặng Kim Sơn, thị trường cho sẵn xuất chăn nuôi Việt Nam, 2003). Hiện tại nước ta không những chưa xuất khẩu thịt bò ra thị trường thế giới do chất lượng thịt kém mà còn phải nhập một lượng lớn thịt bò chất lượng cao phục vụ trong các nhà hàng khách sạn.
Những năm gần đây, nhà nước đặc biệt quan tâm đến phát triển chăn nuôi, coi chăn nuôi là mũi nhọn trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và tạo mọi diéu kiện cho sự phát triển của ngành. Chính phủ ban hành một số cơ chế, chính sách thiết thực hổ trợ cho ngành chăn nuôi. Tiến hành cải tạo đàn bò địa phương thành nhiều giống bò lai có chất lượng thịt cao để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước va xuất khẩu. Do vậy trong tương lai gần thịt bò sẽ trở thành thực phẩm cơ yếu của con người, việc phát triển chăn nuôi bò sẽ trở thành một nghề quan trọng trong NN nói chung và trong chăn nuôi nói riêng.
| Đối với huyện Đức Phổ thuộc tỉnh Quảng Ngãi nằm giữa 2 dau đất nước, tọa lạc trong khu vực kinh tế năng động nhất miền Trung và có cảng biển nước sâu Dung Quất nên rất thuận lợi cho việc giao thương, buôn bán, đưa sản phẩm chăn nuôi ra thị trường trong nước và thế giới. Đồng thời huyện có hon 90% dân cư sống ở nông thôn và hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, họ có truyền thống chăn nuôi lâu đời, có trình độ dân trí khá, cần kiệm, chịu thương chịu khó.Mặt khác, Đức Phổ nằm trong vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi, bãi có rộng, nguồn nước đầy đủ, nguồn phụ phế phẩm NN thủy sản đổi dào. Hiện nay, các hộ chăn nuôi bò với phương châm “lấy công làm lời” nên việc chăn nuôi này cũng mang lại thu nhập cho hộ gia đình. Nhưng gần đây tình hình chăn nuôi bò trên dia bàn huyện phát triển ram rộ, mang tính chất tự phát, riêng lẻ, kỹ thuật chăn nuôi chưa áp dụng đúng, chưa tận dụng hết tiểm năng sẵn có của địa phương dẫn đến các nông hộ chăn nuôi còn gap nhiều khó khăn và hiệu quả trong chăn nuôi bò ngày càng thấp.
Chính vì những thực tế trên, được sự đồng ý của khoa Kinh Tế trường Đại học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh và sự cho phép của phòng ĐC_NN & PTNT huyện Đức Phổ tỉnh Quảng Ngãi, chúng tôi tiến hành nghiên cứu để tài “ Thực trạng và giải pháp phát triển ngành chăn nuôi bò trên địa bàn huyện Đức Phổ tỉnh Quảng Ngãi”. Với mong muốn góp phần khẳng định vai trò và hiệu quả kinh tế của ngành chăn nuôi bò ở hiện tại cũng như trong tương lai, nhằm mục đích nâng cao thu nhập cho người nông dân, phát triển đưa huyện Đức Phổ tiến lên hòa cùng đất nước thực hiện mục tiêu xây dựng “ dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.2Mục tiêu nghiên cứu chính của dé tài -Đánh giá thực trạng tình hình chăn nuôi bò ở huyện Đức Phổ tỉnh Quảng Ngãi. -Phân tích đánh giá hiệu quả chăn nuôi bồ ở hộ gia đình.
-So sánh hiệu quả kinh tế của giống bò địa phương với bò lai Bô. -Phân tích đánh giá hiệu quả chăn nuôi bò theo các qui mô khác nhau và đưa ra qui mô chăn nuôi có hiệu quả cao. -Phân tích ma trận các yếu tố liên quan trong phát triển chăn nuôi bò trên địa bàn huyện. -Đề ra một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện, phát triển ngành chăn nuôi hộ gia đình ở huyện Đức Phổ tỉnh Quảng Ngãi.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của để tài là các hộ chăn nuôi bò đã có sản phẩm thu hoạch trên địa bàn huyện Đức Phổ tỉnh Quảng Ngãi.2 Phạm vi nghiên cứu % Pham vi nghiên cứu về không gian: Huyện Đức Phổ tỉnh Quảng Ngãi.
“+ Pham vi nghiên cứu về thời gian: Thời gian nghiên cứu dé tài từ 25 tháng 03 năm 2005 đến 08 tháng 06 năm 2005. % Phạm vi nghiên cứu về nội dung : Dé tài chủ yếu tập trung nghiên cứu hiệu quả kinh tế của ngành chăn nuôi ở nông hộ, không nghiên cứu sâu vào kỹ thuật. Chung 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Tam quan trọng của ngành chăn nuôi bò nông hộ Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, bò đã được thuần hóa và phát triển phục vụ cho nhu cầu kinh tế xã hội. Ngành chăn nuôi bò là ngành chăn nuôi quan trọng ở nhiều nước trên thế giới cũng như ở nước ta.
Nước ta với truyền thống NN lúa nước nên chăn nuôi bò được chăn nuôi theo mục đích làm sức kéo. Khi đất nước tiến lên CNH - HDH NN nông thôn, sức kéo trâu bò được thay thế bằng cơ giới hóa, song ngành chăn nuôi này không bị loại bổ mà tiếp tục phát triển mạnh hơn theo hướng sản xuất hàng hóa. Xã hội ngày càng phát triển đời sống nhân dan ngày càng cải thiện, nhu cầu tiên dùng những sản phẩm có giá trị cao ngày càng tăng. Ngành chăn nuôi bò đáp ứng các nhu cầu vật chất, văn hóa, và cả giải trí cho đời sống nhân dân.
* Bò là nguồn cung cấp sức kéo cho nông nghiệp: Ngày nay, mặc dù nhà nước đã đâu tư cơ giới hóa nông nghiệp, nhưng sức kéo từ bò vẫn chiếm 40% số bò trong toàn quốc (Giáo trình chăn nuôi trâu bò, 2001). Huyện Đức Phổ với diện tích đất NN chiếm 33% tổng diện tích đất tự nhiên. Địa hình đất đa dạng, phức tạp nên việc sử dụng cơ giới hóa cũng gặp nhiều khó khăn, do đó sức kéo từ bò ở địa phương vẫn được xem trọng. s* Ngành chăn nuôi bồ cung cấp nguồn protein động vật qúy giá cho con người.
Thịt và sữa bò được xếp vào loại thực phẩm có giá trị dinh đưỡng cao. Thịt bò cung cấp 2. Thịt và sữa vừa là thực phẩm trực tiếp vừa là nguyên liệu chế biến thành nhiễu sản phẩm có giá trị cao trong công nghiệp phục vụ nhu cầu con người. Đàn bd toàn huyện năm 2004 là 24.701 con với 47% bò lai Bô có chất lượng thịt cao.
Đây là lượng thịt lớn cung cấp cho thị trường trong tỉnh cũng như trong nước. s* Phân bò là loại phân hữu cơ có giá trị và có khối lượng đáng kể, đáp ứng một lượng lớn nhu cầu phân hữu cơ cho sản xuất NN trong cả nước. Trong NN ngành chăn nuôi và ngành trồng trọt có mối quan hệ mật thiết với nhau. Chăn nuôi cung cấp cho trồng trọt một lượng lớn phân hữu cơ để nâng cao năng suất và cải tạo đất, tái tạo hệ vi sinh vật và bảo vệ cân bằng sinh thái.
Thị trường phân bón vô cơ hiện nay khan hiếm và giá cả ngày càng tăng cao, lượng phân bón cho cây trồng ngày càng thiếu. Nguồn phân hữu cơ này rất quan trọng để thay thế cấp bách hiện trạng này. Ngoài ra còn sử dụng ủ khí Biogas làm khí đốt phục vụ sinh hoạt trong gia đình, làm giảm chi phí sinh hoạt trong gia đình và gia tăng vai trò của người phụ nữ nông thôn trong các hoạt động xã hội khác. “+ Ngành chăn nuôi bò thúc đẩy CN_TTCN phat triển: Các nhà máy xí nghiệp chế biến sữa và thịt ra đời khi nguyên liệu ngành chăn nuôi bò gia tăng.
Da bò là nguồn nguyên liệu chủ yếu của các nhà máy thuộc da. Các nguồn Hguyn liệu này sẽ được chế biến thành các sản phẩm có giá trị gia tăng xuất khẩu mang lại nhiều ngoại tệ cho quốc gia. k Ngoài ra: Ngành chăn nuôi bò còn mang lại nguồn thu nhập bổ sung quan trọng cho nông hộ, tận dụng lao động trong những lúc nông nhàn, lao động người già và trẻ em, tận dụng một lượng lớn nguồn phụ phế phẩm NN déi đào ở nông thôn. Lầ ngành đầu tư an toàn và chắc chắn đối với các nông hộ nghèo ở nông thôn.2 Đặc điểm kinh kế - kỹ thuật của ngành chăn nuôi bò Chăn nuôi nói chung và chăn nuôi bò nói riêng là một trong những ngành chính của sản xuất NN, nó có những đặc điểm chung của sản xuất NN, đồng thời cũng có những đặc điểm riêng biệt cần được quan tâm % Đối tượng tác động của ngành chăn nuôi bò là cơ thể sống động vật.
Vì vậy đối tượng này cần phải có một lượng tiêu tốn thức ăn tối thiểu thường xuyên để duy trì sự sống. Do vậy nhà chăn nuôi phải đồng thời tính toán phần đầu tư cơ bản và đầu tư thường xuyên thức ăn để duy trì và phát triển đàn bò nuôi. Phải đánh giá chu kỳ sản xuất và đầu tư cho chăn nuôi bò một cách hợp lý để lựa chọn thời điểm, phương thức đầu tư mới hay duy trì tái tạo phục hồi. * Chăn nuôi bò có thể phát triển tỉnh tại tập trung mang tính chất như sản xuất công nghiệp hoặc ai động phân tán mang tinh chất như san xuất NN Điều này làm hình thành 3 phương thức chăn nuôi bò khác nhau như sau: -Chăn nuôi tự nhiên: Nó xuất hiện sớm nhất trong lịch sử phát triển của xã hội loài người.
Dựa vào nguồn thức ăn tự nhiên san có và bò tự kiếm sống. Phương thức này phù hợp với các giống bò địa phương thích nghi với môi trường sống, điều kiện thức ăn và phương thức kiếm ăn. Phương thức này chi phí đầu tư thấp, không đòi hỏi cao về kỹ thuật, tận dụng được nguồn tài nguyên đổi đào ở nông thôn. Do vậy ngày nay, phương thức này vẫn còn tiếp tục duy trì và phát triển, đặc biệt phổ biến ở những nước đang phát triển và chậm phát triển.