Thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Quảng Nam: Thực tiễn và Giải pháp

Tài liệu nghiên cứu Thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo pháp luật việt nam từ thực tiễn, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2021

85
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

1.1. Khái niệm, đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng quyền sử dụng đất

1.2. Tính đặc thù của thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng quyền sử dụng đất

1.3. Những vấn đề lý luận về pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng quyền sử dụng đất

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

2.1. Thực trạng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng quyền sử dụng đất

2.2. Thực hiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng quyền sử dụng đất qua thực tiễn tỉnh Quảng Nam

3. CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng quyền sử dụng đất

3.2. Kiến nghị và giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng quyền sử dụng đất

3.3. Giải pháp thực hiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại tỉnh Quảng Nam

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan thuế TNCN chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là một sắc thuế trực thu, đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội và tạo nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước. Trong các khoản thu nhập chịu thuế, thuế TNCN đối với chuyển nhượng quyền sử dụng đất là một trong những nguồn thu lớn, đặc biệt tại các địa phương có thị trường bất động sản sôi động như tỉnh Quảng Nam. Sắc thuế này không chỉ góp phần tăng thu cho ngân sách địa phương mà còn là công cụ hữu hiệu để nhà nước quản lý thị trường đất đai, hạn chế đầu cơ và bình ổn giá. Việc nghiên cứu các quy định pháp luật liên quan, từ Luật Thuế thu nhập cá nhân đến các văn bản hướng dẫn như Thông tư 111/2013/TT-BTC, là nền tảng để hiểu rõ bản chất và cơ chế vận hành của loại thuế này. Pháp luật thuế TNCN xác định rõ đối tượng nộp thuế, các khoản thu nhập chịu thuế, trường hợp được miễn giảm, và căn cứ tính thuế, tạo ra một hành lang pháp lý minh bạch cho các giao dịch đất đai. Qua đó, nhà nước có thể kiểm soát, giám sát và điều tiết các hoạt động chuyển nhượng, đảm bảo thị trường phát triển lành mạnh và bền vững.

1.1. Khái niệm và đặc điểm pháp luật thuế TNCN

Pháp luật thuế thu nhập cá nhân là tập hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thu, nộp thuế TNCN. Đặc điểm nổi bật của sắc thuế này là tính trực thu, đánh trực tiếp vào thu nhập chịu thuế của cá nhân. Đối với hoạt động chuyển nhượng quyền sử dụng đất, pháp luật quy định rõ chủ thể nộp thuế là cá nhân có thu nhập từ giao dịch này, không phân biệt là cá nhân cư trú hay không cư trú. Khách thể của thuế là phần thu nhập phát sinh từ việc chuyển nhượng. Một đặc điểm quan trọng khác là pháp luật thuế TNCN luôn gắn liền với chính sách xã hội, thể hiện qua các quy định về miễn, giảm thuế nhằm hỗ trợ các đối tượng chính sách và đảm bảo an sinh xã hội.

1.2. Vai trò của thuế trong quản lý thị trường đất đai

Thuế TNCN từ chuyển nhượng đất không chỉ là một nghĩa vụ tài chính khi chuyển nhượng đất mà còn là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước. Thứ nhất, nó góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước (NSNN), đặc biệt là ngân sách địa phương, để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng. Thứ hai, việc áp thuế giúp kiểm soát và minh bạch hóa các giao dịch, hạn chế tình trạng đầu cơ, thổi giá gây sốt ảo trên thị trường. Bằng cách yêu cầu kê khai và nộp thuế, cơ quan thuế có thể giám sát hoạt động chuyển nhượng, nắm bắt thông tin về giá cả và quy mô thị trường. Thứ ba, chính sách thuế hợp lý khuyến khích việc sử dụng đất hiệu quả, tiết kiệm, thúc đẩy đầu tư vào các công trình trên đất, từ đó làm gia tăng giá trị của đất đai và góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

II. Thách thức trong thu thuế chuyển nhượng đất tại Quảng Nam

Thực tiễn tại tỉnh Quảng Nam cho thấy công tác quản lý và thu thuế TNCN đối với chuyển nhượng quyền sử dụng đất vẫn còn nhiều thách thức và bất cập. Mặc dù thị trường bất động sản phát triển mạnh mẽ, đặc biệt tại các khu vực như Điện Bàn, Hội An, Tam Kỳ, nhưng nguồn thu ngân sách từ hoạt động này chưa tương xứng với tiềm năng. Một trong những khó khăn lớn nhất là tình trạng người nộp thuế (NNT) cố tình kê khai giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong hợp đồng thấp hơn nhiều so với giá giao dịch thực tế để trốn thuế. Bên cạnh đó, việc xác định các trường hợp được miễn thuế thu nhập cá nhân cũng gặp nhiều vướng mắc do thiếu cơ sở dữ liệu liên thông để kiểm tra, xác minh tài sản duy nhất. Phương thức thanh toán chủ yếu bằng tiền mặt trong các giao dịch cũng gây khó khăn cho việc kiểm soát dòng tiền và chống thất thu thuế. Những hạn chế này không chỉ gây thất thu cho ngân sách mà còn tạo ra sự bất bình đẳng giữa những người nộp thuế và làm méo mó thị trường bất động sản.

2.1. Kê khai giá chuyển nhượng thấp hơn thực tế

Hành vi khai giá trên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thấp hơn giá trị thực tế là một trong những hình thức trốn thuế phổ biến nhất. Người dân thường thỏa thuận một mức giá thực tế nhưng chỉ ghi trên hợp đồng công chứng một mức giá tượng trưng, thường bằng hoặc cao hơn một chút so với bảng giá đất tỉnh Quảng Nam do UBND tỉnh ban hành. Mục đích là để giảm số thuế TNCN (2%) và lệ phí trước bạ nhà đất (0.5%) phải nộp. Do giá đất tính thuế dựa trên hợp đồng hoặc bảng giá đất của nhà nước, trong khi giá thị trường cao hơn gấp nhiều lần, nên ngân sách đã thất thoát một khoản thu rất lớn. Việc thiếu cơ chế kiểm soát giá giao dịch thực tế và chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này.

2.2. Vướng mắc trong xác định đối tượng miễn thuế

Pháp luật hiện hành cho phép miễn thuế đối với trường hợp chuyển nhượng nhà ở, đất ở duy nhất. Tuy nhiên, việc xác minh một cá nhân chỉ sở hữu duy nhất một bất động sản tại thời điểm chuyển nhượng là rất khó khăn. Cơ sở dữ liệu về đất đai và tài sản của người dân chưa được số hóa và liên thông trên toàn quốc. Do đó, cơ quan thuếvăn phòng đăng ký đất đai Quảng Nam chủ yếu dựa vào sự tự kê khai và cam kết của người nộp thuế. Điều này tạo ra kẽ hở để một số cá nhân sở hữu nhiều bất động sản nhưng vẫn kê khai gian dối để được miễn thuế, gây thất thu và bất công. Việc kiểm tra hậu kiểm cũng gặp nhiều trở ngại, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan liên quan.

III. Hướng dẫn cách tính thuế thu nhập cá nhân bán đất chuẩn

Để thực hiện đúng nghĩa vụ tài chính khi chuyển nhượng đất, người nộp thuế cần nắm rõ cách tính thuế TNCN. Việc tính toán chính xác không chỉ giúp tuân thủ pháp luật mà còn tránh được các rủi ro pháp lý và các khoản phạt phát sinh sau này. Theo quy định của Luật Thuế thu nhập cá nhân và các văn bản hướng dẫn, số thuế phải nộp được xác định dựa trên hai yếu tố chính: giá chuyển nhượng (thu nhập tính thuế) và thuế suất. Nắm vững công thức và các quy định liên quan đến việc xác định giá tính thuế là điều kiện tiên quyết. Đặc biệt, người dân cần lưu ý đến thời điểm tính thuế TNCN, vì đây là căn cứ quan trọng để xác định giá đất áp dụng và hiệu lực của các quy định pháp luật. Việc hiểu rõ các quy định này giúp quá trình giao dịch diễn ra minh bạch, thuận lợi và đúng pháp luật, bảo vệ quyền lợi cho cả bên mua và bên bán.

3.1. Xác định giá chuyển nhượng và thu nhập tính thuế

Thu nhập tính thuế từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác định là giá chuyển nhượng tại thời điểm giao dịch. Cụ thể, giá đất tính thuế là giá ghi trên hợp đồng chuyển nhượng. Tuy nhiên, pháp luật có quy định mức giá sàn để chống thất thu thuế. Theo đó, trong trường hợp giá trên hợp đồng thấp hơn mức giá trong bảng giá đất tỉnh Quảng Nam do UBND tỉnh quy định tại thời điểm chuyển nhượng, thì giá tính thuế sẽ được áp dụng theo bảng giá đất của nhà nước. Đây là một quy định quan trọng nhằm đảm bảo nguồn thu tối thiểu cho ngân sách. Do đó, khi lập hợp đồng, các bên cần tham chiếu bảng giá đất hiện hành để kê khai mức giá hợp lý.

3.2. Áp dụng thuế suất chuyển nhượng bất động sản 2

Công thức cách tính thuế thu nhập cá nhân bán đất được quy định rõ ràng và thống nhất. Số thuế TNCN phải nộp được tính bằng cách lấy giá chuyển nhượng nhân với thuế suất chuyển nhượng bất động sản là 2%. Cụ thể: Thuế TNCN phải nộp = Giá chuyển nhượng x 2%. Ví dụ, một cá nhân chuyển nhượng một thửa đất với giá ghi trên hợp đồng là 1 tỷ đồng (và giá này không thấp hơn giá quy định của UBND tỉnh), thì số thuế TNCN phải nộp là: 1.000.000.000 đồng x 2% = 20.000.000 đồng. Đây là mức thuế suất cố định, áp dụng cho mọi giao dịch chuyển nhượng bất động sản, không phân biệt loại đất hay giá trị giao dịch.

3.3. Thời điểm tính thuế và các quy định liên quan

Việc xác định thời điểm tính thuế TNCN có ý nghĩa quan trọng. Theo quy định, thời điểm tính thuế từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất là thời điểm hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực pháp luật. Đây thường là thời điểm các bên hoàn tất thủ tục công chứng, chứng thực hợp đồng. Đối với trường hợp cá nhân nhận chuyển nhượng nhà ở hình thành trong tương lai, thời điểm tính thuế là lúc cá nhân nộp hồ sơ khai thuế với cơ quan thuế. Việc xác định đúng thời điểm giúp áp dụng đúng bảng giá đất của nhà nước và các chính sách thuế có hiệu lực tại thời gian đó, tránh các tranh chấp không đáng có.

IV. Quy trình kê khai thuế và thủ tục sang tên sổ đỏ

Hoàn thành nghĩa vụ tài chính khi chuyển nhượng đất là điều kiện bắt buộc để thực hiện thủ tục sang tên sổ đỏ. Quy trình này đòi hỏi người nộp thuế phải chuẩn bị đầy đủ hồ sơ và thực hiện các bước theo đúng trình tự pháp luật quy định. Việc kê khai thuế không chỉ áp dụng với các trường hợp phải nộp thuế mà ngay cả các trường hợp thuộc diện được miễn thuế cũng phải thực hiện. Hồ sơ sẽ được nộp tại bộ phận một cửa liên thông của UBND cấp huyện hoặc trực tiếp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Quảng Nam. Sau khi nhận được thông báo thuế từ cơ quan thuế, người nộp thuế thực hiện nộp tiền vào ngân sách nhà nước và nhận chứng từ. Chứng từ này là cơ sở để hoàn tất thủ tục đăng ký biến động đất đai và nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới. Quy trình được thiết kế theo cơ chế một cửa nhằm tạo thuận lợi, giảm thời gian đi lại cho người dân.

4.1. Chuẩn bị hồ sơ khai thuế TNCN cần những gì

Một bộ hồ sơ khai thuế TNCN đầy đủ là yếu tố quyết định để quá trình giải quyết được nhanh chóng. Hồ sơ bao gồm: Tờ khai thuế TNCN theo Mẫu số 03/BĐS-TNCN (ban hành kèm theo Thông tư 92/2015/TT-BTC); bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; bản sao CCCD/CMND của các bên; và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được công chứng. Trong trường hợp được miễn thuế, người nộp thuế cần cung cấp thêm các giấy tờ chứng minh mối quan hệ nhân thân (giấy khai sinh, giấy đăng ký kết hôn...) hoặc bản cam kết tài sản duy nhất. Việc chuẩn bị kỹ lưỡng hồ sơ sẽ giúp tránh phải bổ sung, chỉnh sửa nhiều lần, tiết kiệm thời gian và công sức.

4.2. Các bước thực hiện thủ tục sang tên sổ đỏ chi tiết

Quy trình thủ tục sang tên sổ đỏ sau khi công chứng hợp đồng bao gồm các bước chính. Đầu tiên, các bên nộp hồ sơ tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai cấp huyện. Sau khi tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ, cơ quan này sẽ gửi thông tin địa chính đến Chi cục thuế tỉnh Quảng Nam (hoặc Chi cục Thuế cấp huyện) để xác định nghĩa vụ tài chính. Cơ quan thuế ra thông báo nộp thuế TNCN và lệ phí trước bạ. Người nộp thuế căn cứ vào thông báo để nộp tiền vào Kho bạc Nhà nước. Cuối cùng, sau khi nộp lại chứng từ đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính, Văn phòng đăng ký đất đai sẽ thực hiện đăng ký biến động đất đai và cấp Giấy chứng nhận mới cho bên nhận chuyển nhượng.

V. Kết quả thu thuế chuyển nhượng đất thực tiễn Quảng Nam

Thực tiễn tại tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2018-2020 cho thấy sự biến động mạnh mẽ của thị trường bất động sản đã tác động trực tiếp đến công tác thu thuế TNCN đối với chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Số liệu từ Chi cục thuế tỉnh Quảng Nam ghi nhận sự gia tăng đột biến về số lượng hồ sơ đăng ký thuế và số thuế thu được, đặc biệt trong năm 2019. Điều này phản ánh sự sôi động của các hoạt động đầu tư, mua bán đất đai trên địa bàn. Các yếu tố kinh tế - xã hội như quy hoạch đô thị, phát triển du lịch, và xây dựng các khu công nghiệp đã thúc đẩy giá trị đất đai và số lượng giao dịch tăng cao. Tuy nhiên, kết quả này cũng bộc lộ những thách thức trong công tác quản lý. Dù số thu tăng, nhưng tỷ lệ thất thu vẫn còn lớn do các hành vi trốn, lách thuế. Công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế đã được tăng cường nhưng vẫn cần những giải pháp căn cơ hơn để quản lý hiệu quả nguồn thu quan trọng này.

5.1. Phân tích số liệu đăng ký và nộp thuế giai đoạn 2018 2020

Theo số liệu thống kê, số lượng đối tượng đăng ký nộp thuế TNCN đối với CNQSD đất tại Quảng Nam tăng mạnh. Cụ thể, năm 2018 có 12.338 cá nhân đăng ký, đến năm 2019 con số này tăng vọt lên 23.541, và đạt 24.761 vào năm 2020. Sự gia tăng này cho thấy thị trường đất đai tại tỉnh rất sôi động. Số thu từ thuế TNCN cũng tăng tương ứng, đóng góp một phần không nhỏ vào tổng thu ngân sách của tỉnh. Điều này khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của nguồn thu từ bất động sản trong cơ cấu kinh tế địa phương. Tuy nhiên, việc quản lý một lượng lớn người nộp thuế phân tán cũng đặt ra áp lực không nhỏ cho ngành thuế.

5.2. Tác động của thị trường bất động sản đến nguồn thu

Sự phát triển của hàng loạt dự án khu đô thị, khu dân cư mới tại các địa phương như Điện Bàn, Tam Kỳ, Hội An đã tạo ra một làn sóng đầu tư mạnh mẽ. Giá đất tăng cao kéo theo giá trị các giao dịch tăng, từ đó làm tăng số thu nhập chịu thuế. Tuy nhiên, mặt trái của sự phát triển nóng là tình trạng đầu cơ và các giao dịch ngầm, mua bán qua giấy tay không qua công chứng, gây khó khăn cho công tác quản lý và làm thất thu thuế. Sự biến động của thị trường đòi hỏi cơ quan thuế phải có những biện pháp linh hoạt, cập nhật kịp thời bảng giá đất tỉnh Quảng Nam để phản ánh sát hơn với giá thị trường, từ đó hạn chế việc kê khai giá thấp.

5.3. Hoạt động kiểm tra thanh tra và xử lý vi phạm

Để chống thất thu, Chi cục thuế tỉnh Quảng Nam đã tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra thuế. Các hoạt động này tập trung vào việc rà soát các hồ sơ có dấu hiệu rủi ro cao, như các giao dịch có giá kê khai thấp bất thường so với giá thị trường khu vực. Qua thanh tra, nhiều trường hợp vi phạm đã bị phát hiện và truy thu thuế, xử phạt hành chính. Đồng thời, công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế cũng được đẩy mạnh để nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật. Mặc dù vậy, hiệu quả của công tác này vẫn còn hạn chế do nguồn lực mỏng và thiếu các công cụ hỗ trợ hiện đại để đối chiếu, xác minh thông tin.

VI. Giải pháp hoàn thiện luật thuế TNCN chuyển nhượng đất

Để khắc phục những bất cập và nâng cao hiệu quả quản lý thuế TNCN đối với chuyển nhượng quyền sử dụng đất, việc hoàn thiện hành lang pháp lý và các giải pháp thực thi là yêu cầu cấp thiết. Cần có những điều chỉnh trong Luật Thuế thu nhập cá nhân và các văn bản liên quan như Nghị định 12/2015/NĐ-CP để giải quyết các vấn đề từ gốc rễ. Các giải pháp cần tập trung vào việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia, áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý thuế, và quy định bắt buộc thanh toán không dùng tiền mặt đối với các giao dịch bất động sản có giá trị lớn. Song song đó, tại địa phương như Quảng Nam, cần nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ thuế, tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan, và đẩy mạnh tuyên truyền để người dân hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình, từ đó tự giác tuân thủ pháp luật.

6.1. Kiến nghị sửa đổi bổ sung các quy định pháp luật

Cần nghiên cứu sửa đổi quy định về giá đất tính thuế. Thay vì chỉ dựa vào giá hợp đồng hoặc bảng giá đất của nhà nước, có thể xem xét áp dụng một cơ chế xác định giá linh hoạt hơn, tham chiếu giá thị trường thông qua các đơn vị định giá độc lập hoặc xây dựng hệ thống dữ liệu giá đất quốc gia. Đồng thời, cần có quy định rõ ràng hơn về cách xác minh tài sản duy nhất để tránh bị lợi dụng trong chính sách miễn thuế thu nhập cá nhân. Việc tăng mức xử phạt đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế trong lĩnh vực bất động sản cũng là một giải pháp cần thiết để tăng tính răn đe.

6.2. Nâng cao hiệu quả quản lý tại Chi cục thuế Quảng Nam

Đối với Chi cục thuế tỉnh Quảng Nam, cần đầu tư vào hiện đại hóa công tác quản lý. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu liên thông giữa cơ quan thuế, tài nguyên môi trường, công chứng và ngân hàng là giải pháp trọng tâm. Điều này giúp tự động đối chiếu, kiểm tra thông tin, phát hiện các giao dịch đáng ngờ. Bên cạnh đó, cần tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ thường xuyên cho cán bộ thuế để nâng cao năng lực chuyên môn, đặc biệt là kỹ năng phân tích rủi ro và thanh tra, kiểm tra. Tăng cường đối thoại với người dân và doanh nghiệp cũng giúp tháo gỡ vướng mắc và cải thiện môi trường tuân thủ thuế.

6.3. Giải pháp kiểm soát thanh toán trong giao dịch đất đai

Một trong những giải pháp đột phá để chống thất thu thuế là kiểm soát phương thức thanh toán. Nhà nước cần có lộ trình để tiến tới quy định bắt buộc thanh toán qua ngân hàng đối với các giao dịch bất động sản. Khi dòng tiền được kiểm soát, việc xác định giá giao dịch thực tế sẽ trở nên minh bạch và chính xác hơn rất nhiều. Điều này không chỉ giúp thu đúng, thu đủ thuế TNCN đối với chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà còn góp phần phòng chống rửa tiền và minh bạch hóa thị trường bất động sản, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, công bằng cho tất cả các bên tham gia.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/10/2025
Thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo pháp luật việt nam từ thực tiễn tỉnh quảng nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 1. Khái niệm, đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng quyền sử dụng đất 1. Khái niệm thuế thu nhập cá nhân Trong khoa học pháp lý hiện nay, vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về thuế. Các nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm về thuế dựa trên khía cạnh mà họ muốn khai thác, tìm hiểm nên dẫn đến các khái niệm về thuế chưa phản ánh được đầy đủ về bản chất của thuế.

Theo một số quan điểm về thuế kinh điển: “Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của nhà nước đó là thuế khóa”. Đối với quan điểm này, thuế chỉ đơn giản là phần đóng góp của công dân để duy trì hoạt động của nhà nước. Trong ấn phẩm “Economics” của hai nhà kinh tế Mỹ là Makkollhell và Bruy đã đưa ra một khái niệm khác về thuế dựa trên cơ sở đối giá: “Thuế là một khoản tiền chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc chuyển giao bằng hàng hóa, dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận ra được trực tiếp hàng hóa dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà tòa tuyên phạt do vi phạm pháp luật”. Theo khái niệm được đưa ra, thuế là một nghĩa vụ của một doanh nghiệp, một hộ gia đình phải thực hiện đối với nơi mà mình kinh doanh hoặc sinh sống, không quan tâm việc sử dụng tiền thuế như thế nào.

Nhìn từ góc độ phân phối thu nhập, thuế là hình thức phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước nhằm phục vụ các nhu cầu chi tiêu trong quá trình thực hiện chức năng của nhà nước. Dưới góc độ NNT, thuế là khoản tiền bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải đóng góp theo quy định pháp luật. Ở Việt Nam hiện nay, trong khoa học pháp lý cũng chưa có định nghĩa thống nhất về thuế. Theo từ điển Tiếng Việt (trung tâm từ điển năm 1998) thì 7 “thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc tổ chức kinh doanh tùy theo tài sản thu nhập, nghề nghiệp… buộc phải nộp cho Nhà nước theo quy định pháp luật”.

Mặc dù có nhiều quy định khác nhau về thuế nhưng có thể có một góc nhìn khái quát về thuế là một khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trích nộp cho nhà nước và gắn liền với quyền và quyền lực nhà nước, không hoàn trả trực tiếp mà được dùng để phục vụ hoạt động nhà nước và chi tiêu công cộng. Thuế hiện nay có hai hình thức: thuế trực thu và thuế gián thu. Thuế trực thu là thuế thu trực tiếp từ NNT gắn liên với thu nhập của NNT. Thuế gián thu là thuế thu thông qua giá cả của hàng hóa, dịch vụ.

Thuế TNCN là khoản tiền mà người có thu nhập phải trích nộp một phần tiền lương hoặc từ các nguồn thu nhập khác vào NSNN. Thuế TNCN là một loại thuế trực thu đánh thuế trên thu nhập nhận được của cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định, thường là trong một năm, từng tháng hoặc theo từng lần phát sinh. Thuế TNCN là một sắc thuế có tầm quan trọng lớn trong việc huy động nguồn thu vào ngân sách và thực hiện công bằng xã hội. Thuế TNCN đánh vào cả cá nhân kinh doanh và cá nhân không kinh doanh.

Đặc điểm thuế thu nhập cá nhân - Thứ nhất, thuế TNCN là thuế trực thu. Bởi cá nhân có thu nhập chịu thuế là NNT, việc nộp thuế được tiến hành từ việc khấu trừ trực tiếp từ thu nhập của cá nhân đó mà không thông qua hành vi tiêu dùng hoặc chủ thể trung gian khác. Do thuế trực thu trực tiếp điều tiết vào thu nhập, tài sản của tổ chức và cá nhân, có xem xét đến hoàn cảnh, điều kiện và khả năng đóng góp của NNT nên có tác dụng trong việc điều hoà thu nhập, góp phần giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập và tài sản giữa các tầng lớp dân cư. Tuy nhiên, thuế trực thu lại có hạn chế lớn là dễ gây phản ứng từ phía NNT hoặc dễ xảy ra tình trạng trốn thuế, lách thuế nếu quy định mức thuế suất cao.

Hơn nữa, việc theo dõi, tính toán và thu thuế phức tạp, đặc biệt là thuế TNCN với diện thu thuế rộng và phân tán. Vì vậy, nếu không có biện pháp quản lý thu thuế hiệu quả thì dễ dẫn đến hạn chế tác dụng của loại thuế này trong 8 việc tập trung thu thuế đầy đủ, kịp thời vào NSNN. - Thứ hai, thuế TNCN có đối tượng chịu thuế là thu nhập của cá nhân. Đối tượng nộp thuế TNCN là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam.

Một cá nhân được xem là cư trú khi đáp ứng một trong các điều kiện sau: Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam; hoặc có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn. Đối tượng chịu thuế là cá nhân có thu nhập thường xuyên hay không thường xuyên bao gồm: thu nhập từ kinh doanh; tiền lương, tiền công; đầu tư vốn; chuyển nhượng vốn; chuyển nhượng bất động sản; bản quyền; nhượng quyền thương mại; nhận thừa kế, nhận quà tặng là tài sản; trúng thưởng; thu nhập từ Nhà nước hoặc xã hội dành cho và các khoản thu nhập khác. Thu nhập chịu thuế là những khoản thu nhập hợp pháp, thực tế đã phát sinh, có tính phổ biến và nhà nước có thể kiểm soát được mới đảm bảo tính khả thi, tính công bằng và đảm bảo nguồn thu ổn định cho NSNN. - Thứ ba, thuế TNCN là loại thuế có tính ổn định không cao và quá trình quản lý phức tạp.

Đặc điểm này của thuế TNCN thể hiện ở chỗ các quy định về thu nhập chịu thuế, thu nhập không chịu thuế thường xuyên thay đổi theo từng biến động của nền kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ. Ngoài ra, các quy định như giảm trừ gia cảnh, về mức thuế suất cũng có sự thay đổi linh hoạt do thuế điều tiết trực tiếp vào thu nhập của cá nhân nên có tác động rất lớn đến mức sống của người dân và chịu ảnh hưởng bởi giá cả thị trường. Việc quản lý thuế TNCN tương đối khó khăn, chi phí quản lý thuế thường lớn hơn so với các loại thuế khác bởi ngoài việc xác định các khoản thu nhập chịu thuế còn phải xác định nguồn gốc thu nhập, thời hạn cư trú của chủ sở hữu, tính ổn định của thu nhập. - Thứ tư, thuế TNCN luôn gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia.

Hầu hết các quốc gia đều gắn chính sách thuế TNCN với một số chính sách xã hội khác. 9 Thể hiện nó luôn quy định loại trừ một số khoản thu nhập trước khi tính thuế TNCN như phúc lợi, thu nhập mang tính trợ cấp xã hội, khoản chi cần thiết cho cuộc sống cá nhân, gia đình NNT, khoản chi mang tính nhân đạo xã hội (công cộng, chăm sóc sức khỏe),… Xét về góc độ kinh tế, thuế TNCN có tính trung lập cao hơn so với các loại thuế khác vì tăng hay giảm thuế suất thuế TNCN hầu như không kéo theo những biến đổi về cơ cấu kinh tế. - Thứ năm, nguồn luật điều chỉnh quan hệ pháp luật thuế TNCN bao gồm các văn bản pháp luật quốc gia và cả luật quốc tế. Đây là đặc trưng của thuế nói chung và thuế TNCN nói riêng.

Hầu hết thuế TNCN của các quốc gia trên thế giới không chỉ áp dụng đối với công dân của mình mà còn áp dụng đối với người nước ngoài có thu nhập chịu thuế phát sinh trên lãnh thổ quốc gia đó. Để tránh tình trạng đánh thuế hai lần lên một đối tượng chịu thuế, các hiệp định tránh đánh thuế hai lần được ký kết giữa các quốc gia cũng là nguồn luật điều chỉnh quan hệ pháp luật thuế TNCN. Ngoài những đặc điểm nêu trên của thuế TNCN, thuế TNCN đối với CNQSD đất có những đặc điểm riêng do sự chi phối của đối tượng nộp thuế là thu nhập phát sinh từ CNQSD đất. Thuế TNCN đối với CNQSD đất được xác định bằng giá CNQSD đất theo từng lần chuyển nhượng.

Trường hợp không xác định được giá chuyển nhượng thì thu nhập chịu thuế được xác định theo giá ghi trong hợp đồng giao dịch, nếu giá chuyển nhượng thấp hơn giá đất do Nhà nước quy định thì lấy giá đất do Nhà nước quy định làm căn cứ chịu thuế. Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế từ CNQSD đất là thời điểm hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực. Tính đặc thù của thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng quyền sử dụng đất - Thứ nhất, thuế TNCN là thuế trực thu, đánh vào thu nhập chính đáng của từng cá nhân. Vì vậy nên nó phản ánh sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế theo luật và đối tượng chịu thuế theo ý nghĩa kinh tế.

Người nộp thuế cũng là người chịu thuế, người chịu thuế TNCN không có khả năng chuyển giao gánh nặng thuế sang 10 cho các đối tượng khác tại thời điểm đánh thuế; việc nộp thuế được tiến hành từ việc khấu trừ trực tiếp từ thu nhập của cá nhân đó mà không thông qua hành vi tiêu dùng hoặc chủ thể trung gian khác. Do thuế trực thu trực tiếp điều tiết vào thu nhập, tài sản của tổ chức và cá nhân, có xem xét đến hoàn cảnh, điều kiện và khả năng đóng góp của NNT nên nó rất có tác dụng trong việc điều hoà thu nhập, góp phần giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập và tài sản giữa các tầng lớp dân cư. Tuy nhiên, thuế trực thu lại có hạn chế lớn là dễ gây phản ứng từ phía NNT hoặc dễ xảy ra tình trạng trốn, lậu thuế nếu quy định mức thuế suất cao. Không giống như các loại thuế gián thu, ví dụ thuế tiêu dùng, khoản thuế được tính sẵn trong giá thanh toán nên nó không ảnh hưởng nhiều đến tâm lí của người mua về khoản thuế mình phải nộp, thuế trực thu có ảnh hưởng mạnh về tâm lí NNT.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ