CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm xuất khẩu hàng hóa Có nhiều khái niệm về xuất khẩu hàng hóa. Tùy vào các mục đích nghiên cứu và quan điểm nghiên cứu, xuất khẩu hàng hóa được hiểu theo nhiều cách khác nhau: - Belay Seyoum (2021) đã nêu rằng, xuất khẩu hàng hoá là hoạt động đưa hàng hoá ra khỏi một nước (từ quốc gia này sang quốc gia khác) để bán trên cơ sở dùng tiền làm phương tiện thanh toán hoặc trao đổi lấy một hàng hoá khác có giá trị tương. - Theo Nguyễn Duy Bột (2013): Xuất khẩu hàng hóa là việc những sản phẩm hàng hóa hữu hình được sản xuất hoặc gia công tại các cơ sở sản xuất và các khu chế xuất với mục đích để tiêu thụ tại các thị trường ngoài nước đi qua hải quan.
- Luật Thương mại Việt Nam số 36/2005/QH11 ngày 14/6/2005 của Quốc hội: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”. Từ các khái niệm trên có thể hiểu một cách chung nhất, xuất khẩu cơ bản là hoạt động buôn bán hàng hóa và dịch vụ cho nước ngoài để thu về lợi nhuận cho quốc gia dựa trên pháp luật và thông lệ của các quốc gia. Hoạt động xuất khẩu đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Đặc điểm của xuất khẩu hàng hóa Đỗ Đức Bình & Ngô Thị Tuyết Mai (2019) đã nêu ra những đặc điểm của xuất khẩu hàng hóa như sau: - Khách hàng trong hoạt động xuất khẩu là người nước ngoài, nhóm khách hàng này có những đặc điểm khác biệt với khách hàng trong nước về ngôn ngữ, lối sống, mức sống, phong tục tập quán, tôn giáo….Do đó, trước khi xuất khẩu đòi hỏi doanh nghiệp phải nghiên cứu kỹ thị trường nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ bằng hàng hóa thích hợp.
- Thị trường thường phức tạp và khó tiếp cận do cách xa về mặt địa lý, khó khăn về thu thập và xử lý thông tin, sự khác biệt về môi trường pháp lý do văn hóa và luật pháp của mỗi quốc gia là khác nhau nên doanh nghiệp cần chuẩn bị đầy đủ kiến thức để phù hợp và hội nhập với thị trường quốc tế. - Xuất khẩu thông qua hợp đồng với khối lượng lớn nên đòi hỏi kỹ càng, chặt chẽ, tránh nhầm lẫn, khiếu nại, tranh chấp về sau. Các nghiệp vụ liên quan đến xuất khẩu như: Thanh toán, vận chuyển, ký kết hợp đồng đều phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro nên doanh nghiệp cũng cần lưu ý: 4 + Thời gian lưu chuyển hàng hoá xuất khẩu: Thời gian lưu chuyển hàng hoá trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu bao giờ cũng dài hơn so với thời gian lưu chuyển hàng hoá trong hoạt động kinh doanh nội địa do khoảng cách địa lý cũng như các thủ tục phức tạp để xuất khẩu hàng hoá. Do đó, để xác định kết quả hoạt động kinh doanh xuất khẩu, người ta chỉ xác định khi hàng hoá đã luân chuyển được một vòng hay khi đã thực hiện xong một thương vụ ngoại thương.
+ Hàng hoá kinh doanh xuất khẩu: Hàng hoá kinh doanh xuất khẩu bao gồm nhiều loại, trong đó xuất khẩu chủ yếu những mặt hàng thuộc thế mạnh trong nước. Hàng hóa xuất khẩu đòi hỏi chất lượng cao, mẫu mã đẹp, hợp thị hiếu tiêu dùng ở từng khu vực, từng quốc gia trong từng thời kỳ, xác định chu kỳ sống lâu dài của sản phẩm. + Thời điểm giao, nhận hàng hóa xuất khẩu: Do người mua và người bán ở các quốc gia khác nhau nên giao nhận hàng hoá xuất khẩu có những điểm khác so với vận chuyển và giao nhận hàng hoá nội địa. Trong thương mại quốc tế, người mua và người bán thường không trực tiếp giao nhận hàng hoá với nhau mà phải giao nhận thông qua các đại lý hoặc người chuyên chở.
Đại lý giao nhận hoặc người chuyên chở chịu trách nhiệm nhận hàng hoặc giao hàng trên cơ sở thực tế có kết hợp với các giấy tờ chứng từ có liên quan. Công việc của bên dịch vụ giao nhận đòi hỏi phải có kiến thức rộng rãi về nghiệp vụ ngoại thương, về luật pháp và nhiều lĩnh vực khác có liên quan như vận tải, bảo hiểm, thanh toán quốc tế, thủ tục hải quan. + Phương thức thanh toán: Trong xuất khẩu hàng hoá, các hình thức thanh toán có vai trò quan trọng giúp 2 bên mua bán sẽ biết được thời gian thanh toán đúng hạn, đảm bảo tính chặt chẽ trong quan hệ mua bán, là căn cứ truy xét trách nhiệm khi xảy ra tranh chấp, hình thành những quy định chung về cách thức thanh toán, hạn chế rủi ro về xa cách địa chỉ, ngôn ngữ, phong tục, pháp luật và tập quán thương mại theo từng vùng miền. Trong xuất khẩu có nhiều phương thức thanh toán như là phương thức ghi sổ, phương thức nhờ thu, phương thức chuyển tiền và phương thức thư tín dụng.
Tuy nhiên phương thức thanh toán chủ yếu được sử dụng là phương thức thanh toán bằng thư tín dụng. Đây là phương thức thanh toán đảm bảo được quyền lợi của nhà xuất khẩu. + Tập quán, pháp luật: Hai bên mua, bán có quốc tịch khác nhau, pháp luật khác nhau, tập quán kinh doanh khác nhau. Do vậy hai bên phải tuân thủ luật kinh doanh cũng như tôn trọng tập quán kinh doanh của từng nước và luật thương mại quốc tế, đảm bảo thủ tục hải quan, thuế xuất nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hợp tác và phát triển.
Các hình thức xuất khẩu hàng hóa chủ yếu Theo Đỗ Đức Bình & Ngô Thị Tuyết Mai (2019): Trong thực tế, xuất khẩu hàng hóa được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, các hình thức chủ yếu đó là xuất 5 khẩu trực tiếp, xuất khẩu qua trung gian, xuất khẩu tại chỗ, tái xuất khẩu và gia công xuất khẩu. Xuất khẩu trực tiếp Là việc xuất khẩu hàng hóa dịch vụ do chính doanh nghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất trong nước hoặc từ khách hàng nước ngoài thông qua tổ chức của mình. Xuất khẩu trực tiếp yêu cầu phải có nguồn vốn đủ lớn và đội ngũ cán bộ công nhân viên có năng lực và trình độ để có thể trực tiếp tiến hành hoạt động kinh doanh xuất khẩu. Với hình thức này các doanh nghiệp trực tiếp quan hệ với các khách hàng nước ngoài mà không qua bất kỳ một trung gian nào.
- Ưu điểm: + Giảm bớt chi phí trung gian vì doanh nghiệp có thể tự mình mua được hàng hoá tốt phù hợp với yêu cầu khách hàng với giá mua vào thấp và không phải cho trả chi phí cho bên trung gian nào do đó tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. + Có thể liên hệ trực tiếp và đều đặn với khách hàng và với thị trường nước ngoài từ đó nắm bắt ngay được nhu cầu cũng như tình hình của khách hàng nên có thể thay đổi sản phẩm và những điều kiện bán hàng trong điều kiện cần thiết. - Nhược điểm: + Độ rủi ro lớn khi hàng hoá có thể không bán được hay bán chậm do những biến động từ phía khách hàng hay từ thị trường dẫn đến ứ đọng vốn kinh doanh. + Đối với các thị trường mới thâm nhập, chưa hiểu rõ thì các doanh nghiệp xuất khẩu dễ bị ép giá, bị lấn át … Vì vậy, hình thức này đòi hỏi các doanh nghiệp có quy mô lớn, các cán bộ ngoại thương phải có trình độ và nghiệp vụ cao, sản phẩm xuất khẩu phải có chất lượng uy tín tương đối trên thị trường.
Xuất khẩu qua trung gian Là hình thức kinh doanh, trong đó đơn vị kinh doanh xuất khẩu đóng vai trò là người trung gian hay cho đơn vị sản xuất tiến hành ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, tiến hành ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, tiến hành các thủ tục cần thiết để xuất khẩu hàng hóa cho nhà sản xuất qua đó thu được một số tiền nhất định (theo tỷ lệ % giá trị lô hàng). - Ưu điểm: Mức độ rủi ro thấp, đặc biệt là không cần bỏ vốn vào kinh doanh, không phải chi cho các khoản nghiên cứu thị trường, giao dịch ký kết hợp đồng xuất khẩu, tạo được việc làm cho người kinh doanh. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng không phải chịu trách nhiệm cuối cùng về việc bán hàng nên tránh được những rủi ro trong kinh doanh như việc tranh chấp hay khiếu nại hợp đồng mà vẫn thu được lợi nhuận chắc chắn từ phía đơn vị sản xuất. 6 - Nhược điểm: + Doanh nghiệp phải trải qua trung gian và phải mất một tỷ lệ hoa hồng nhất định.
Ngoài ra, do doanh nghiệp không tham gia trực tiếp vào quá trình nghiên cứu, tìm kiếm thị trường xuất khẩu nên thị trường và khách hàng của doanh nghiệp bị hạn chế tương đối, nắm bắt thông tin về thị trường chậm. + Vì vậy, doanh nghiệp phải lựa chọn phương thức phù hợp với khả năng của chính mình sao cho đạt hiệu quả cao nhất, tiết kiệm được chi phí, thu hồi vốn nhanh, doanh số bán hàng tăng, thị trường bán hàng được mở rộng thuận lợi trong quá trình xuất nhập khẩu của mình. Xuất khẩu tại chỗ Đây là hình thức doanh nghiệp xuất khẩu ngay chính đất nước của mình để thu ngoại tệ thông qua việc giao hàng bán cho các doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động trên lãnh thổ của doanh nghiệp xuất khẩu theo sự chỉ định của phía doanh nghiệp nước ngoài; hoặc bán hàng sang khu chế xuất đang hoạt động trên lãnh thổ của doanh nghiệp xuất khẩu. - Ưu điểm: Tiết kiệm được nhiều chi phí vận chuyển và thời gian cho các công ty và các công ty được hưởng lợi từ nhiều ưu đãi về thuế xuất khẩu vì xuất khẩu tại chỗ nên hàng hóa không cần di chuyển đến cảng hoặc sân bay, tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển và giảm chi phí vận chuyển.
- Nhược điểm: Do hàng hóa không được vận chuyển đến cảng, sân bay nên việc xác định giá cả hàng hóa sẽ khó khăn vì hàng hóa có thể bị thất lạc hoặc nếu không được đóng gói và bảo quản đúng cách, khi các công ty tự đóng gói và vận chuyển hàng hóa có thể không đáp ứng các thông số kỹ thuật đóng gói. Tạm nhập tái xuất Là một hình thức xuất khẩu ra nước ngoài những hàng hóa đã nhập khẩu trước đây nhưng chưa qua gia công chế biến ở nước tái xuất. Hợp đồng này luôn có 3 bên: nước xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu.