Thực trạng việc làm của người di cư tự do trong cơ sở sản xuất nhỏ tại quận Hoàng Mai, Hà Nội

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh thực trạng việc làm của người di cư tự do trong cơ sở sản xuất nhỏ trên địa bàn quận hoàng mai, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất

Chuyên ngành

Xã Hội Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2006

164
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.2. II - ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3. III - MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.4. IV- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.4.1. Phương pháp thu thập thông tin

1.4.2. Phương pháp chọn mẫu

1.5. V- GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

1.6. VI- SƠ ĐỒ LÝ THUYẾT

2. PHẦN NỘI DUNG CHÍNH

2. CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM LÝ THUYẾT VỀ VẤN ĐỀ VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI DI CƯ TỰ DO

2.1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

2.2. Hệ khái niệm công cụ

2.3. Khái niệm Việc làm

2.4. Khái niệm Di cư

2.5. Khái niệm Di cư tự do

2.6. Khái niệm Cơ sở sản xuất nhỏ

2.7. Cơ sở lý luận và phương pháp luận của đề tài

2.7.1. Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là cơ sở phương pháp luận của đề tài

2.7.2. Lý thuyết về cung và cầu của David Begg và cộng sự

2.7.3. Lý thuyết chọn lựa hợp lý của Coleman, Friendman và Hechter

2.7.4. Lý thuyết trao đổi của Adam Smith, David Ricardo, John Stuart Mell, Jeremy

2.8. Quan điểm của Đảng và nhà nước ta về vấn đề việc làm của lao động tự do trong các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ

3. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC LÀM TRONG CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT NHỎ

3.1. Vài nét khái quát về địa bàn nghiên cứu và khách thể nghiên cứu

3.2. Một vài nét khái quát về tình hình việc làm cho người lao động di cư vào Hà Nội

3.3. Đặc điểm tự nhiên - xã hội quận Hoàng Mai

3.4. Đặc điểm việc làm của các cơ sở sản xuất nhỏ ở quận Hoàng Mai

3.5. Việc làm với yêu cầu về học vấn và trình độ tay nghề

3.6. Khả năng thu hút lao động của các cơ sở sản xuất nhỏ

3.7. Mức độ ổn định của công việc

3.8. Thay đổi việc làm của người lao động di cư

3.9. Môi trường tự nhiên nơi làm việc và tai nạn lao động

3.9.1. Môi trường tự nhiên nơi làm việc

3.9.2. Tai nạn lao động

3.10. Phụ cấp ăn trưa

3.11. Các quyền lợi khác

3.12. Tiền tiết kiệm

4. CHƯƠNG 3: CÁC MỐI QUAN HỆ XÃ HỘI CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG DI CƯ

4.1. Quan hệ giữa chủ và người lao động

4.2. Quan hệ giữa những người lao động trong nơi làm việc

4.3. Các mối quan hệ khác của người lao động di cư

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

5. Kết luận

6. Khuyến nghị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

1. Trích các bản phỏng vấn sâu

2. Bảng hỏi

3. Kết quả điều tra định lượng

Tóm tắt

I. Tổng quan về thực trạng việc làm của người di cư tự do tại quận Hoàng Mai

Quận Hoàng Mai, một trong những quận đang phát triển nhanh chóng của Hà Nội, đã thu hút một lượng lớn người di cư tự do từ các tỉnh khác đến làm việc. Sự gia tăng này không chỉ tạo ra cơ hội việc làm mà còn đặt ra nhiều thách thức cho cả người lao động và chính quyền địa phương. Việc làm của người di cư tự do tại đây chủ yếu tập trung trong các cơ sở sản xuất nhỏ, nơi mà nhu cầu lao động cao nhưng điều kiện làm việc và phúc lợi còn nhiều hạn chế.

1.1. Đặc điểm của người di cư tự do tại quận Hoàng Mai

Người di cư tự do tại quận Hoàng Mai thường đến từ các tỉnh lân cận, chủ yếu là những người trẻ tuổi, có trình độ học vấn thấp. Họ tìm kiếm việc làm với mong muốn cải thiện đời sống kinh tế cho bản thân và gia đình. Đặc điểm này ảnh hưởng đến khả năng tìm kiếm việc làm và sự ổn định trong công việc của họ.

1.2. Tình hình việc làm trong các cơ sở sản xuất nhỏ

Các cơ sở sản xuất nhỏ tại quận Hoàng Mai chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực chế biến thực phẩm, may mặc và xây dựng. Mặc dù có nhiều cơ hội việc làm, nhưng người lao động thường phải đối mặt với mức lương thấp và thiếu các chế độ phúc lợi xã hội.

II. Những thách thức trong việc làm của người di cư tự do tại quận Hoàng Mai

Mặc dù có nhiều cơ hội việc làm, nhưng người di cư tự do tại quận Hoàng Mai vẫn gặp phải nhiều thách thức. Các vấn đề như khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm, điều kiện làm việc không đảm bảo và thiếu các chính sách hỗ trợ từ chính quyền địa phương là những vấn đề nổi bật.

2.1. Khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm

Nhiều người di cư tự do gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm do thiếu thông tin và kỹ năng cần thiết. Họ thường phải nhờ đến sự giúp đỡ của bạn bè hoặc người quen để tìm việc, điều này làm tăng thêm áp lực trong quá trình tìm kiếm.

2.2. Điều kiện làm việc và phúc lợi xã hội

Điều kiện làm việc tại các cơ sở sản xuất nhỏ thường không đảm bảo an toàn và vệ sinh. Người lao động di cư tự do thường không được hưởng các chế độ phúc lợi như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, dẫn đến rủi ro cao trong công việc.

III. Phương pháp cải thiện tình trạng việc làm cho người di cư tự do

Để cải thiện tình trạng việc làm cho người di cư tự do tại quận Hoàng Mai, cần có những giải pháp đồng bộ từ chính quyền và các cơ sở sản xuất. Việc nâng cao nhận thức về quyền lợi lao động và cải thiện điều kiện làm việc là rất cần thiết.

3.1. Tăng cường đào tạo nghề cho người lao động

Cung cấp các khóa đào tạo nghề cho người di cư tự do sẽ giúp họ nâng cao kỹ năng và khả năng tìm kiếm việc làm. Các chương trình đào tạo cần được thiết kế phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động địa phương.

3.2. Cải thiện chính sách hỗ trợ từ chính quyền

Chính quyền địa phương cần có các chính sách hỗ trợ cụ thể cho người di cư tự do, bao gồm việc tạo điều kiện thuận lợi cho họ trong việc tiếp cận thông tin việc làm và các dịch vụ xã hội.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về việc làm của người di cư tự do

Nghiên cứu về tình trạng việc làm của người di cư tự do tại quận Hoàng Mai đã chỉ ra rằng việc làm trong các cơ sở sản xuất nhỏ có thể mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Kết quả nghiên cứu cho thấy cần có sự can thiệp kịp thời từ các cơ quan chức năng.

4.1. Kết quả khảo sát về tình trạng việc làm

Khảo sát cho thấy khoảng 70% người di cư tự do cảm thấy không hài lòng với công việc hiện tại do mức lương thấp và điều kiện làm việc không đảm bảo. Điều này cho thấy cần có sự cải thiện đáng kể trong chính sách lao động.

4.2. Những mô hình thành công trong việc làm

Một số mô hình hợp tác giữa các cơ sở sản xuất và tổ chức phi chính phủ đã thành công trong việc cải thiện điều kiện làm việc và nâng cao thu nhập cho người lao động di cư tự do. Những mô hình này cần được nhân rộng.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho người di cư tự do tại quận Hoàng Mai

Tình trạng việc làm của người di cư tự do tại quận Hoàng Mai đang có nhiều chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn nhiều thách thức. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan để đảm bảo quyền lợi cho người lao động và phát triển bền vững.

5.1. Tầm quan trọng của chính sách lao động

Chính sách lao động cần được điều chỉnh để phù hợp với thực tế và nhu cầu của người di cư tự do. Việc này không chỉ giúp cải thiện đời sống cho người lao động mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế của quận.

5.2. Hướng đi tương lai cho người di cư tự do

Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và đánh giá tình hình việc làm của người di cư tự do để có những giải pháp kịp thời và hiệu quả. Sự tham gia của cộng đồng và các tổ chức xã hội cũng rất quan trọng trong việc hỗ trợ người lao động.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh thực trạng việc làm của người di cư tự do trong cơ sở sản xuất nhỏ trên địa bàn quận hoàng mai hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

PHẦN MỞ ĐẦU I - LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Sau hai mươi năm kể từ khi Đảng tiến hành đổi mới, đất nước ta đã thu được những thành quả đáng khích lệ: Kinh tế phát triển ổn định và kéo dài. Chúng ta đã duy trì “tốc độ tăng trưởng nhanh liên tục đến nay đạt 20 năm” [24,27], không những thế, còn tăng với mức độ nhanh “Tốc độ tăng bình quân hàng năm trong 20 năm đổi mới đạt 6,8%, riêng thời kỳ 1991-2002 đạt 7,5%”[24,27] và được đánh giá là tốc độ tăng trưởng đứng thứ hai trên thế giới. Bước ra từ chiến tranh, với một nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề của cuộc chiến, và một nền nông nghiệp lạc hậu, hàng năm phải nhập khẩu gạo để cứu đói cho người dân; ngày nay nước ta đã tự túc được lương thực và dần dần trở thành một cường quốc xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới. Đang là một nước có cơ cấu kinh tế dựa trên nông nghiệp là chính, với số người dân sống ở vùng nông thôn khoảng 70%, với nền kinh tế dựa trên nông nghiệp, chúng ta đã, đang chuyển dần cơ cấu kinh tế sang công nghiệp hoá và hiện đại hoá.

Chỉ cần xem xét mấy năm gần đây chúng ta có thể thấy được sự biến đổi này “Trong cấu trúc tổng sản phẩm trong nước, tỷ trọng đóng góp của lao động nông nghiệp có xu hướng giảm dần từ 40,5% năm 1991 xuống còn 25,7% năm 1997, trong khi đó tỷ trọng sản phẩm do lao động công nghiệp và dịch vụ tăng dần. Năm 1991, lao động công nghiệp và xây dựng đóng góp 23,8% trong tổng sản phẩm trong nước, năm 1997 tỷ trọng đó là 31,7%. Cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế thay đổi theo hướng giảm dần tỷ lệ lao động trong nông nghiệp từ 73% xuống 67%, tăng dần tỷ lệ lao động trong công nghiệp và nhanh nhất là ngành dịch vụ từ 16% lên 20% trong thời kỳ 1990- 2001”[18,280]. -1- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LuËn v¨n cao häc x· héi häc NguyÔn §øc TuyÕn Kết quả của sự đổi mới và những chương trình phát triển có thể sẽ không được sáng lạn như vậy nếu Đảng và Nhà nước không có những chính sách quyết liệt, hợp lý, và đúng đắn trong từng thời kỳ.

Trong rất nhiều các chính sách bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau để đưa đất nước tiến lên trong thời kỳ đổi mới, chúng ta có thể thấy hai tập hợp chính sách tạo lên những chuyển biến rõ nét của nền kinh tế: Giai đoạn đầu đổi mới, phát triển nông nghiệp là ưu tiên hàng đầu. Những chính sách mở cửa đã cởi trói sức lao động của người dân nông thôn, tạo ra một sự biến đổi rõ rệt ở khu vực nông thôn, từ đó sản lượng lương thực tăng lên nhanh chóng. Giai đoạn sau các chính sách tập trung vào phát triển công nghiệp, khuyến khích sự thành lập các doanh nghiệp, tạo việc làm, thu hút nguồn lao động đang dư thừa của đất nước. Với đà phát triển kinh tế, để tiến hành công nghiệp hoá thành công, hiện đại hoá đất nước, để giảm mạnh tỷ lệ người nghèo và tăng tính hiệu quả của nền kinh tế đất nước, Đảng ta đã phát động Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 với mục đích chuyển đổi cơ cấu kinh tế hợp lý, làm cho “Tỷ trọng trong GDP của nông nghiệp 16-17%, công nghiệp 40-41%, dịch vụ 42-43%.

Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn 50%”[34,160] Những sự biến động trên tác động mạnh mẽ đến đời sống người dân cả nước, đồng thời làm biến đổi cơ cấu công nghiệp/nông nghiệp trong nền kinh tế nước ta. Sự tăng lên của tỷ lệ công nghiệp và giảm xuống của nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế quốc dân làm cho một bộ phận dân chúng không có việc làm ở nông thôn phải di cư lao động từ khu vực nông thôn sang đô thị. Sự vận động trên thực ra không nằm ngoài những lý luận của các nhà xã hội học, theo kết luận của một nghiên cứu xã hội học, “Khi tiền vốn đầu tư ở khu vực đô thị trở thành yếu tố quan trọng tạo cơ hội việc làm tốt hơn, dòng di dân sẽ hướng chủ -2- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LuËn v¨n cao häc x· héi häc NguyÔn §øc TuyÕn yếu vào khu vực đô thị, tạo ra sức ép về dân số và cơ sở hạ tầng ở khu vực đô thị”[15,5]. Để giảm bớt sức ép của mật độ dân số quá cao, các nhà quản lý đô thị sẽ phải mở rộng thành phố, cải tạo cơ sở hạ tầng.

và vì thế “Sự di cư là nguyên nhân chính của sự phát triển nhanh chóng của nhiều thành phố ngày nay ở Thế giới thứ ba” [20,668]. Việt Nam cũng không thể tránh khỏi quy luật di cư nông thôn-thành thị và sự phát triển các đô thị, vì thế Đảng và nhà nước đã luôn luôn cho ra đời những luật pháp, chính sách phát triển doanh nghiệp để giảm bớt sức ép về việc làm cho người lao động ở đô thị. Do đó, “Gần đây, các doanh nghiệp tư nhân đã mở rộng cả về số lượng, nhân công và sản lượng, phản ánh tiến bộ đáng kể trong việc bãi bỏ các hạn chế đối với khu vực tư nhân trong nước trong các hoạt động công nghiệp và dịch vụ và đặc biệt là ngoại thương từ năm 1999”[3,146]. Một trong các chính sách giai đoạn này, Luật doanh nghiệp đã chứng minh được tính hiệu quả của nó: “Chỉ trong vũng 6 năm từ 2000 - 2005, số lượng DN đăng ký kinh doanh đó gấp 3,3 lần số DN đăng ký trong 10 năm trước đó”[43] đồng thời, “Ngoài ra cũn cú khoảng 2 triệu hộ kinh doanh cỏ thể và hàng chục ngàn chi nhỏnh và văn phũng đại diện được thành lập” [43].

Điều quan trọng hơn, nhận thức về kinh doanh, kinh tế được đổi mới, các thành phần kinh tế đã chứng tỏ được tầm quan trọng trong thực tế. Khu vực kinh tế tư nhân, phi chính thức được công nhận và được đánh giá vì có những đóng góp phù hợp với chính sách phát triển của quốc gia. Các nhà khoa học đã kết luận: “Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là khu vực tạo được việc làm nhiều nhất, không những thế, còn là rẻ nhất và nhanh nhất” [19,10]. Cụ thể hơn: “Theo Báo cáo kinh tế của Ngân hàng thế giới mới đây, thì để tạo ra một chỗ làm, doanh nghiệp nhà nước trung bình tiêu tốn 18.000USD, trong khi đó, doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ cần đến 800 USD” [19,10].

-3- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LuËn v¨n cao häc x· héi häc NguyÔn §øc TuyÕn Tuy đã có nhiều sự chú ý, nhưng sự đánh giá của nhà nước về khu vực kinh tế này vẫn thấp hơn với tầm cỡ phát triển của chúng nên các chính sách chưa phát huy hiệu quả tối đa. Theo như nhận định của một nhà nghiên cứu nước ngoài thì : “Các nhà lãnh đạo Việt Nam đã nhận thấy vai trò tích cực của khu vực tư nhân, tuy nhiên các chính sách thường chưa thật cụ thể” [3,148], và: “các doanh nghiệp vẫn chưa nhận được sự đối xử công bằng đối với hoạt động của họ”[3,148]. Quan hệ của giới chủ và người lao động có nhiều vấn đề khúc mắc. Biểu hiện dễ thấy là gần đây các vụ đình công nổ ra ngày càng nhiều, tuy phần lớn tập trung vào các khu vực kinh tế đầu tư nước ngoài, nhưng cũng có đến khoảng 1/4 là ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh: “560 vụ đỡnh cụng tại Việt Nam kể từ thỏng giờng năm 2004 đến trung tuần tháng 6 năm 2006.

trong số 560 vụ đỡnh cụng, cú 409 vụ xảy ra ở cỏc cụng ty cú vốn đầu tư nước ngoài, 138 vụ ở các công ty ngoài quốc doanh và 13 vụ tại các doanh nghiệp nhà nước”[41]. Một trong những nguyên nhân gây ra thực trạng này là do các chính quyền các cấp chưa đánh giá đúng mức tầm quan trọng của khu vực kinh tế này, sự hiểu biết về thành quả đóng góp của khu vực kinh tế này trong việc giải quyết việc làm cho người lao động góp phần xoá đói giảm nghèo cho người dân còn chưa được thấu đáo. Quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động còn chưa được bình đẳng và thiếu sự giám sát của pháp luật, mà người thường bị thiệt thòi là người lao động do họ không có đủ hiểu biết, kiến thức pháp luật và vị thế thấp kém. Người lao động thường có hướng giải quyết vấn đề của họ theo một cách tiêu cực bằng các hành động chống đối của họ đối với giới chủ, đình công hoặc các hình thức phá hoại khác được tiến hành.

Nếu để phát triển tình trạng này thì chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam khó đạt được những kết quả mong muốn. -4- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LuËn v¨n cao häc x· héi häc NguyÔn §øc TuyÕn Để những vấn đề trên có thể được giải quyết một cách thấu đáo, đồng thời có thể nâng cao được đời sống của người lao động di cư, giải quyết sự căng thẳng trong các quan hệ của họ, chúng ta cần phải hiểu rõ được tình trạng việc làm, lao động của người lao động di cư tự do làm việc ở khu vực kinh tế này. Với những lý do như vậy, luận văn sẽ cố gắng làm rõ thực trạng việc làm của người lao động di cư làm việc ở trong các cơ sở sản xuất nhỏ thuộc quận Hoàng Mai - Hà Nội, phát hiện những vấn đề chưa hợp lý từ đó góp phần đưa ra những kiến nghị cần thiết về mặt chính sách để phát triển mặt mạnh, giảm bớt những khó khăn, vướng mắc của người lao động di cư và sử người dụng lao động, từng bước nâng cao đời sống cho nhóm người lao động di cư làm việc ở khu vực này. Qua trường hợp nghiên cứu quận Hoàng Mai, luận văn cũng hy vọng sẽ góp phần làm rõ hơn thực trạng việc làm của nhóm người di cư vào Hà Nội nói chung, hoặc có thể giúp đỡ giải thích một số vấn đề ở tầm cỡ lớn hơn.

II - ĐỐI TƢỢNG, KHÁCH THỂ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu Tình trạng việc làm và thu nhập của nhóm người lao động di cư tự do trong các cơ sở sản xuất nhỏ. Khách thể nghiên cứu Người lao động di cư hiện đang làm việc trong các cơ sở sản xuất nhỏ. Người chủ cơ sở sản xuất nhỏ đang sử dụng lao động di cư Người quản lý chính quyền nơi địa bàn nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành ở quận Hoàng Mai, nơi có nhiều biến đổi nhanh theo hướng đô thị hoá của Hà Nội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Thực trạng việc làm của người di cư tự do tại quận Hoàng Mai, Hà Nội" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình việc làm của nhóm người di cư tự do tại khu vực này. Nghiên cứu chỉ ra những thách thức mà họ phải đối mặt, bao gồm việc thiếu cơ hội việc làm ổn định và các vấn đề liên quan đến chính sách hỗ trợ. Bên cạnh đó, tài liệu cũng nêu bật những lợi ích mà người di cư tự do mang lại cho nền kinh tế địa phương, từ việc đóng góp vào lực lượng lao động đến việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội.

Để mở rộng hiểu biết về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận án tiến sĩ kinh tế tác động của người nhập cư đến phát triển kinh tế xã hội ở thành phố Đà Nẵng, nơi phân tích tác động của người nhập cư đến sự phát triển kinh tế tại một thành phố khác. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ một số giải pháp nâng cao công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn cũng có thể cung cấp những giải pháp hữu ích cho việc nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho lao động di cư. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn trong quá trình đô thị hóa ở tỉnh Thái Nguyên, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các chiến lược tạo việc làm trong bối cảnh đô thị hóa. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề việc làm của người di cư tự do.