ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) hay còn gọi là nhiễm khuẩn liên quan tới chăm sóc y tế là các nhiễm khuẩn xảy ra trong quá trình người bệnh (NB) được chăm sóc, điều trị tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (KBCB) mà không hiện diện hoặc ủ bệnh khi nhập viện. NKBV là một trong các nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng bệnh nặng, tăng tỷ lệ tử vong và tăng chi phí cho các dịch vụ y tế trong bệnh viện. Các nghiên cứu của các nước và Tổ chức Y tế thế giới ở quy mô vùng, quốc gia và liên quốc gia cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện dao động từ 3,5% đến 10% ở bệnh nhân nội trú. Tại Mỹ, hàng năm ước tính có 2 triệu người bị nhiễm khuẩn bệnh viện, làm 90.000 người tử vong, làm tổn thất thêm 4,5 tỉ đô la viện phí.
Tại Việt Nam, NKBV ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng khám, chữa bệnh. Tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện dao động từ 6% đến 12% [3]. Cùng với sự phát triển của y học hiện đại nhiều ứng dụng kỹ thuật cao và thiết bị y tế (TBYT) được đưa vào sử dụng phục vụ chẩn đoán và điều trị góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh. Tuy nhiên một trong những yếu tố ngoại sinh và là nguồn gây NKBV được xác định đến từ dụng cụ, phương tiện, thiết bị y tế bị ô nhiễm trong quá trình thăm khám và điều trị.
Bề mặt môi trường bệnh viện đặc biệt là bề mặt trang TBYT luôn là nguồn mang vi sinh vật gây NKBV nếu không được vệ sinh thường xuyên và đúng quy trình. Tại Việt Nam, nhận thức được tầm quan trọng của việc vệ sinh bề mặt (MTBM), Bộ Y tế đã ban hành các quy định quy trình vệ sinh môi trường (VSMT) như: Quyết định 4290/QĐ-BYT ngày 15/10/2015 về việc ban hành hướng dẫn vệ sinh MTBM khu vực phẫu thuật [5]; Quyết định 3916/QĐ-BYT ngày 28/8/2017 về việc phê duyệt các hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám chữa bệnh [6]; tại Thông tư 16/2018/BYT ngày 20/7/2018 quy định về kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) trong các cơ sở khám chữa bệnh quy định rõ việc tổ chức thực hiện, giám sát 2 vệ sinh MTBM tại các cơ sở y tế là biện pháp bắt buộc trong việc phòng ngừa, KSNK bệnh viện[9]. Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh nói chung và Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Quảng Ninh nói riêng chưa có nghiên cứu khoa học nào về thực trạng vệ sinh MTBM thiết bị y tế. Để trả lời câu hỏi thực trạng vệ sinh MTBM trang thiết bị y tế tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Quảng Ninh ra sao? Kiến thức và thực hành về vệ sinh MTBM trang thiết bị của đối tượng điều dưỡng, hộ sinh tại các khoa lâm sàng như thế nào? Các yếu tố nào ảnh hưởng đến thực trạng vệ sinh môi trường bề mặt TBYT tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Quảng Ninh và góp phần giúp cho Ban lãnh đạo bệnh viện nắm bắt được tình hình, đưa ra những giải pháp phù hợp để thực hiện tốt công tác KSNK, nghiên cứu: “Thực trạng vệ sinh bề mặt thiết bị y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại các khoa lâm sàng, Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Quảng Ninh năm 2019” đã được thực hiện với các mục tiêu: 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả thực trạng nhiễm khuẩn bề mặt thiết bị y tế tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Quảng Ninh, năm 2019. Mô tả kiến thức, thực hành quy trình vệ sinh bề mặt thiết bị y tế của cán bộ y tế các khoa lâm sàng Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Quảng Ninh, năm 2019. Mô tả một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành quy trình vệ sinh bề mặt thiết bị y tế của cán bộ y tế các khoa lâm sàng. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Môi trường bệnh viện - Môi trường bệnh viện (môi trường trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh) bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, hoạt động của nhân viên y tế (NVYT), người bệnh (NB), người nhà NB, tác động đến đời sống và phát triển của con người, thiên nhiên [6]. - Môi trường bệnh viện chia thành: Môi trường bề mặt (các bề mặt xung quanh BN, bề mặt thiết bị y tế); môi trường không khí; môi trường nước (nước sử dụng trong sinh hoạt và điều trị)[6]. Nhiều nghiên cứu cho thấy MTBM bị ô nhiễm là nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự lan truyền mầm bênh gây ra các vụ dịch trong bệnh viện.
Nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường bề mặt là do việc phát tán vi sinh vật (VSV) gây bệnh từ NB, NVYT nhiễm khuẩn hoặc mang VSV định cư vào môi trường qua các hoạt động chăm sóc, điều trị. Các thuật ngữ cơ bản - Thiết bị y tế: Bao gồm các loại máy, thiết bị hoặc hệ thống thiết bị đồng bộ phục vụ cho công tác chẩn đoán, điều trị, phục hồi chức năng, nghiên cứu khoa học và đào tạo trong lĩnh vực y tế. - Hóa chất khử khuẩn: Là những hóa chất được sử dụng trên bề mặt hoặc thiết bị y tế có khả năng tiêu diệt các VSV gây bệnh nhưng có thể không giết chết bào tử vi khuẩn[6]. - Hóa chất tẩy rửa và làm sạch: Là những chất có khả năng tẩy rửa và làm sạch bao gồm xà phòng, những chất tẩy rửa để làm sạch các chất hữu cơ và dầu mỡ[6].
- Khử khuẩn: Là quá trình loại bỏ hầu hết hoặc tất cả VSV gây bệnh trên bề mặt 5 nhưng không diệt bào tử vi khuẩn[6]. - Vi sinh vật: Vi sinh vật bao gồm vi khuẩn, vi rút, nấm, tảo, động vật đơn bào[6]. - Nguồn truyền bệnh: Là nơi tập hợp các tác nhân gây bệnh có khả năng tồn tại, lan truyền bệnh làm ô nhiễm môi trường, dụng cụ y tế[6]. - Sự nhiễm bẩn: Là sự ô nhiễm các chất hữu cơ, chất bẩn hoặc dịch cơ thể sống có nguy cơ tiềm tàng gây nhiễm khuẩn, gây tổn hại tới đồ vật, môi trường.
Sự nhiễm bẩn này có gây nguy hại đến việc thực hiện chức năng, chất lượng và hiệu quả của dụng cụ y khoa và có thể lây truyền sang người trong quá trình sử dụng hoặc xử lý và lưu giữ[6]. - Tác nhân truyền nhiễm: Bao gồm các VSV và các tác nhân có thể lây truyền từ đối tượng này sang đối tượng khác qua nhiều con đường lây nhiễm khác nhau[6]. - Vệ sinh: là những quy tắc giữ gìn vệ sinh sạch sẽ cho bản thân và môi trường xung quanh nhằm phòng bệnh, giữ gìn và tăng cường sức khỏe cho NB, NVYT, người nhà NB cũng như bảo đảm an toàn môi trường bệnh viện[6]. Nhiễm khuẩn bề mặt thiết bị y tế 1.
Tác nhân gây nhiễm khuẩn bề mặt thiết bị y tế Người bệnh là nguồn chứa các tác nhân gây bệnh quan trọng gây ô nhiễm MTBM bệnh viện. Bề mặt xung quanh NB có tần suất ô nhiễm cao hơn các loại bề mặt khác do đây là nơi NB, NVYT, khách thăm NB động chạm, tiếp xúc thường xuyên [6]. Các tác nhân gây NKBV có thể tồn tại thời gian dài trên môi trường bề mặt không được làm sạch đúng quy trình (bào tử C. Difficile tồn tại từ 4 - 5 tháng hoặc dài hơn trên các bề mặt khô, VRE, MRSA, Acinetobacter species và Norovirus có thể tồn tại trên môi trường bề mặt trong nhiều tuần) [6].
Mức độ ô nhiễm VSV trên MTBM cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố. MTBM ở những khu vực có mức độ phát tán VSV cao (khu vực buồng bệnh, nhất là buồng bệnh khu hồi sức cấp cứu, khu vệ sinh, 6 khu xử lý đồ vải, dụng, chất thải) ô nhiễm VSV nhiều hơn bề mặt các khu vực khác. Những MTBM nhẵn, khô, ô nhiễm ít hơn bề mặt thô ráp và ẩm ướt. Đặc biệt, những BM không được thường xuyên làm sạch hoặc khử khuẩn ô nhiễm VSV nhiều hơn các bề mặt được lau chùi làm sạch thường xuyên [6].
Từ MTBM ô nhiễm, các VSV lan truyền sang khu vực khác và tới người cảm thụ chủ yếu qua bàn tay tiếp xúc với BM ô nhiễm nhưng không VST. Bàn tay của NVYT có thể ô nhiễm tác nhân gây bệnh khi tiếp xúc với bề mặt buồng bệnh có hoặc không có mặt NB. Một số nghiên cứu mới đây cũng cho thấy NB có nguy cơ mắc cùng loại tác nhân gây bệnh với NB mắc nhiễm khuẩn hoặc mang VSV định cư (VRE, MRSA, C. baumannii đa kháng kháng sinh) đã được điều trị trước đó tại cùng buồng bệnh không được khử khuẩn lần cuối [6].
Ngày càng có nhiều nghiên cứu chứng minh sự ô nhiễm BM nói chung và ô nhiễm bề mặt TBYT nói riêng là nguồn lây lan mầm bệnh gây NKBV. Bàn tay NVYT sẽ bị nhiễm bẩn từ bề mặt các trang thiết bị sau khi va chạm, tiếp xúc, là phương tiện lan truyền các tác nhân gây bệnh trong quá trình chăm sóc, điều trị [6]. Cải thiện chất lượng VSMT bề mặt góp phần làm giảm NKBV và khống chế các vụ dịch. Phân loại môi trường bề mặt 1.
Phân loại môi trường bề mặt theo mức độ ô nhiễm - Khu vực yêu cầu vô khuẩn cao: Khu vực chăm sóc, điều trị trực tiếp NB trong tình trạng nặng hoặc rối loạn đáp ứng miễn dịch (ví dụ: NB ung thư, NB suy giảm miễn dịch, NB ghép tủy, NB đang được điều trị liệu pháp hóa học/tia xạ, trẻ sơ sinh non tháng bệnh lý tại các đơn vị Hồi sức sơ sinh, NB bỏng, NB phẫu thuật), bề mặt khu phẫu thuật, nhà đẻ, buồng can thiệp mạch, khu đóng gói lưu giữ dụng cụ tiệt khuẩn, khu pha chế dịch[6]. - Khu vực có nguy cơ ô nhiễm cao: Khu vực có BM bị phơi nhiễm với lượng lớn máu hoặc các dịch cơ thể hoặc khu vực tiếp nhận, cách ly NB mắc các bệnh truyền 7 nhiễm có khả năng gây dịch (ví dụ khu cách ly NB cúm, SARS, sởi v. - Khu vực có nguy cơ ô nhiễm trung bình: Bao gồm tất cả các buồng bệnh, buồng thủ thuật, nhà vệ sinh, nơi lưu giữ đồ bẩn của các đơn vị ngoại trừ buồng bệnh, nhà vệ sinh, nơi lưu giữ chất ô nhiễm thuộc khu vực có nguy cơ ô nhiễm cao trong BV [6]. - Khu vực có nguy cơ ô nhiễm thấp: Bề mặt và/hoặc thiết bị không phơi nhiễm với máu/dịch cơ thể (buồng hành chính, buồng chờ, buồng nhân viên, buồng họp v.