CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUAN LY GIAO THONG TĨNH ĐÔ THỊ CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ GIAO THÔNG TĨNH TREN DIA BAN QUAN HOÀN KIỀM CHƯƠNG 3 MOT SO GIẢI PHAP NANG CAO HIEU QUA QUAN LÝ GIAO THONG TINH TREN DIA BAN QUAN HOAN KIEM VA KIEN NGHI CHUONG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE CÔNG TÁC QUAN LÝ GIAO THONG TĨNH ĐÔ THỊ 1.1 Tổng quan về giao thông tĩnh đô thị 1.1 Một số khái niệm 1.1 D6 thị Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp, là nơi tập trung dân cư, chủ yếu lao động phi nông nghiệp, sống và làm việc theo kiểu thành thị, điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là nơi trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành có vai trò thúc đây sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong tỉnh hoặc trong huyện.2 Giao thông đô thị Giao thông đô thị được hiểu là tập hợp các công trình, các phương tiện va đường sá đảm bảo sự liên hệ thuận lợi giữa các khu vực trong thành phố với nhau và giữa thành phố với các khu vực bên ngoài thành phố. Hay còn nói một cách khác đó là sự tương tác giữa các đối tượng vận động như người, xe cộ và các cấu trúc tĩnh tại (đường, hè phó, biển báo.) và các công trình giao thông như bến, bãi. Hệ thống giao thông đô thị là tập hợp của mạng lưới đường, các công trình phục vụ giao thông và các loại phương tiện giao thông được sử dụng trong đô thị. Giao thông đô thị một mặt phải đảm bảo công tác vận chuyền và liên hệ thuận tiện, nhanh chóng giữa các bộ phận chức năng cơ bản của đô thị như: nơi ở, nơi làm việc, khu nghỉ ngơi, giải trí và các trung tâm của đô thi với nhau, mặt khác phải dap ứng các nhu cầu vận chuyên và liên hệ giữa đô thị với các điểm dân cư khác ở xung quanh.
Có thé nói giao thông đô thị là một bộ phận hết sức quan trong trong thiết kế quy hoạch đô thị. Mạng lưới giao thông quyết định hình thái tổ chức không gian đô thị, hướng phát triển đô thị, cơ cấu tổ chức sử dụng đất đai và mối quan hệ giữa các bộ phận chức năng với nhau. - Các thành phần của hệ thống giao thông đô thị bao gồm: Hệ thống giao thông động: Là thành phần của mạng lưới giao thông có chức năng đảm bảo cho phương tiện và người di chuyển được thuận tiện giữa các khu vực. Đó là mạng lưới đường xá cùng nút giao thông, cầu vượt.
Hệ thống giao thông tĩnh: Là bộ phận của hệ thống giao thông phục vụ phương tiện trong thời gian không hoạt động và hành khách tại các điểm đỗ đón trả khách, xếp dỡ hàng hóa. Hệ thống vận tải: Là tập hợp các phương thức vận tải và phương tiện vận tải khác nhau dé vận chuyên hàng hóa và hành khách trong thành phố.3 Giao thông tĩnh tại đô thị Giao thông tĩnh là một bộ phận của hệ thống GTĐT phục vụ phương tiện và hành khách trong thời gian không (hay tạm dừng) hoạt động (chờ đợi, nghỉ ngơi, bảo dưỡng sửa chữa.), có chức năng phục vụ phương tiện và hành khách (hoặc hàng hóa) trong thời gian không di chuyên. Nó gồm hệ thống các điểm đầu mối giao thông của các phương thức vận tải khác nhau (các nhà ga đường sắt, các bến cảng, ga hàng không, các bến vận tải đường bộ.), các bãi đỗ xe, các điểm đầu- cuối, các điểm trung chuyên, các điểm dừng dọc tuyến. Hệ thống giao thông tĩnh là yếu tố không kém phần quan trọng trong giao thông đô thị hiện đại.
Tuy nhiên vấn đề này vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Trong quy hoạch đô thị từ những năm qua, vấn đề giao thông tĩnh đặc biệt là quy hoạch và tô chức hệ thong các điểm, bến bãi đỗ xe trong các đô thị chưa được quan tâm đúng mức và trên thực tế chưa có một quy hoạch ngắn hạn hay dài hạn nào cho các điểm, bến bãi đỗ xe tại các đô thị lớn. Hệ thống giao thông tĩnh yếu gây cản trở và rối loạn giao thông.2 Đặc điểm giao thông tĩnh đô thị Giao thông tĩnh là một bộ phận không thé tách rời với mạng lưới hệ thống giao thông đô thị. Vì vậy, trước tiên nó cũng bao hàm những đặc điểm của hệ thống giao thông đô thị: - Hệ thống giao thông đô thị có nhiều chức năng khác nhau: ngoài tác dụng giao thông, hệ thống giao thông đô thị còn là nơi bố trí các công trình công cộng, các công trình cơ sở hạ tầng, thể hiện nghệ thuật kiến trúc đô thị.
- Có các công trình xây dựng, yêu cầu cao về vệ sinh môi trường, về thẩm mỹ, về giao thông. Trong phạm vi đường phố lại có nhiều công trình công cộng trên và dưới mặt đất, nên công việc cải tạo và nâng cấp đường cũ thường phức tạp, tốn kém, gây nhiều khó khăn, thường phải vừa xây dựng vừa đảm bảo giao thông. - Yêu cầu về nghệ thuật kiến trúc cao: Nghệ thuật kiến trúc của các công trình được con người thưởng thức nhờ con đường. Cho nên, đường và các công trình xây dựng phải tạo thành một quan thé kiến trúc thống nhất, hài hoa, hap dẫn làm cho cư dân cảm thấy thoải mái, dễ chịu.
Bên cạnh những đặc điểm chung của hệ thống giao thông đô thị, giao thông tinh còn có những đặc điềm hết sức riêng biệt: - Bến, bãi đỗ xe đô thị là một bộ phận quan trọng của hệ thống giao thông đô thị. - Là nơi đỗ cho phương tiện khi ở trạng thái tĩnh, là đầu mối chuyên tiếp của hành khách và hàng hóa. - Là nơi công trình mang tính chất dịch vụ phục vụ - Là nơi tập trung lớn hàng hoá và hành khách, phản ánh lối sống, văn hoá văn minh của các đô thị. Được tô chức và quản lý theo pháp luật của Nhà nước theo quy chế, theo chính sách của chính quyền địa phương.3 Phân loại giao thông tĩnh đô thị Giao thông vận tải có thé chia thành ba loại: Vận tải liên tỉnh, nội thành ra vào ngoại thành và vận tải nội đô đô thị.
Vận tải liên tỉnh có thể bằng đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường sông và đường hành không. Vận tải nội đô chủ yếu bằng xe máy, xe đạp, xe ôtô cá nhân, xe buýt và xe taxi. Giao thông tĩnh gắn liền với tô chức vận tải, căn cứ vào cách phân loại của giao thông vận tải mà ta có thê phân loại các điểm đỗ xe và bến bãi đỗ xe thành: Các bến đậu đầu mối: bến xe, bến cảng, nhà ga, sân bay; Các bãi đỗ có định; các điểm dừng. +Các bến đỗ đầu mối Là nơi khởi đầu và kết thúc của một hoặc nhiều tuyến vận tải; là đầu mối chuyên tiếp giữa các phương tiện vận tải; là nơi các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyên thực hiện quyên quản ly Nhà nước theo quy định của pháp luật.Có khả năng chuyên tiếp liên vận giữa các phương tiện như đường sắt, đường bộ, đường thủy, đường hàng không và các bến xe công cộng của đô thị.
Gần tuyến đường chính trong đô thị nhất là các tuyến có bồ trí giao thông công cộng. Vị trí bến là nơi cửa ngõ của đô thị, nơi đông người qua lại, quan hệ mật thiết với người dân, phù hợp với quy hoạch chung của đô thị, thuận tiện cho khách và nối giao thông đối nội và giao thông đối ngoại của đô thị. +Bãi đỗ Bãi đỗ được hiểu là điểm đỗ có quy mô lớn và rất lớn phục vụ cho nhu cầu đỗ xe có các mục đích đi lại khá thuần. Song khối tượng hành hoá cao như: Nhu cầu đỗ xe tại khu vực các khu công nghiệp, tại các trung tâm, tại các công trình công cộng lớn.
Tại các đầu mối giao thông, tại các khu vui chơi giải trí thé dục thé thao lớn. Hiện tại trong đô thị số lượng xe ôtô ngày càng tăng nhất là ở các nước phát triển vấn đề bãi đỗ xe trở thành nan giải. Vì vậy khi quy hoạch mạng lưới đường trong đô thị cần quy hoạch mạng lưới các bãi đỗ xe. Vị trí các bãi đỗ xe thường được bố trí ở các nơi như sau: Các công trình công cộng như rạp hát, rạp chiếu phim, sân vận động, bến cảng, bệnh viện.
Các công trình dịch vụ thương mại như siêu thị, chợ cửa hàng. Các khu tập trung hàng hoá như kho tàng, nhà máy, cơ quan hành chính, khoa học và đảo tạo. Quy mô của bãi đỗ xe được xác định dựa vào số lượng xe ôtô trong đô thị, căn cứ số dân trong đô thị có tính đến sự gia tăng dân số trong tương lai và số dân trên một ôtô và xe tải bình quân. + Điểm đỗ Các điểm đỗ xe thường được phân thành các loại như sau: Điểm đỗ xe loại I: Là điểm đỗ xe tổng hợp có quy mô liên các quận, huyện và có địa điểm xây dựng cô đinh, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phó, mang đầy đủ các công trình chức năng và hệ thống dịch vụ hỗ trợ.
Điểm đỗ xe loại II: Là điểm đỗ xe tổng hợp có chức năng liên phường, có địa diém xây dựng cố định phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của phường. Điểm đỗ xe loại III: Là điểm đỗ xe cấp phường, xã gắn với các công trình, mạng lưới phục vụ công cộng đô thị cấp phường xã. Điểm đỗ xe được phân loại theo ba loại chính (điểm đỗ xe loại I, điểm đỗ xe loại II và điểm đỗ xe loại II) và phân cấp phục vụ từ cấp Thành phố có tính chất phục vụ liên tỉnh, liên quận huyện đến cấp Quận huyện, liên phường xã đến cấp phường xã, tiêu khu. Được bố trí gắn với các chức năng, khu dân cư của đô thị, quá trình hình thành đầu tư xây dựng phân kỳ theo sự hình thành và phát triển của đô thị nhưng đảm bảo mục tiêu đón đầu cung ứng.
Trong thành phó, khi quy hoạch mạng lưới giao thông công cộng người ta phải bố trí các điểm đỗ xe công cộng dé có thé giảm thời gian xe chạy, xe chạy an toàn và nâng cao khả năng thông xe trên đường.