Tổng quan nghiên cứu

Năm 2011, tổng kim ngạch trao đổi thương mại song phương giữa Việt Nam và Australia đạt hơn 4,86 tỷ USD, tăng 58% so với năm 2005 và xác lập vị thế của Australia là đối tác thương mại lớn thứ 10 của Việt Nam. Mặc dù mối quan hệ ngoại giao chính thức được thiết lập từ năm 1973 và được nâng tầm lên Đối tác toàn diện vào năm 2009, hoạt động giao thương giữa hai quốc gia vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Việt Nam chỉ xếp vị trí thứ 5 trong khối ASEAN về kim ngạch trao đổi với Australia, tụt lại khá xa so với Indonesia với 11,19 tỷ USD và Singapore với 20,74 tỷ USD. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm đặt ra là phân tích thực trạng phát triển thương mại hàng hóa song phương, chỉ rõ nguyên nhân vì sao thị phần hàng hóa Việt Nam tại Australia có xu hướng suy giảm từ 2,2% năm 2005 xuống 1,2% năm 2011 bất chấp các cam kết hội nhập.

Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng quan hệ thương mại hàng hóa song phương giai đoạn 2005-2011 trên các chiều cạnh quy mô, thị phần và cơ cấu, đồng thời dự báo triển vọng và xây dựng hệ thống giải pháp phát triển cho giai đoạn 2012-2020. Phạm vi không gian tập trung vào hoạt động trao đổi thương mại giữa Việt Nam và Australia trong mối tương quan so sánh với các nền kinh tế ASEAN. Về mặt ý nghĩa, nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng và luận cứ khoa học thực tiễn nhằm giúp các cơ quan quản lý và doanh nghiệp duy trì mức thặng dư thương mại bền vững trên 900 triệu USD mỗi năm, đồng thời nâng cao giá trị gia tăng cho hàng hóa xuất khẩu Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng ba lý thuyết nền tảng của kinh tế học quốc tế để giải thích cơ sở hình thành và vận động của dòng chảy thương mại song phương. Thứ nhất, Lý thuyết Lợi thế tuyệt đối của Adam Smith giải thích động lực trao đổi dựa trên sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, khí hậu và tài nguyên khoáng sản sẵn có của mỗi nước. Thứ hai, Lý thuyết Lợi thế so sánh của David Ricardo khẳng định thương mại quốc tế luôn mang lại lợi ích cho cả hai bên khi mỗi quốc gia tập trung chuyên môn hóa vào các mặt hàng có chi phí cơ hội thấp hơn. Thứ ba, Mô hình Tỷ lệ yếu tố sản xuất Heckscher-Ohlin (H-O) đóng vai trò then chốt khi chứng minh rằng một quốc gia sẽ xuất khẩu các sản phẩm sử dụng thâm dụng yếu tố sản xuất dồi dào, giá rẻ tương đối và nhập khẩu các sản phẩm sử dụng yếu tố sản xuất khan hiếm, đắt đỏ.

Khung phân tích của luận văn làm rõ 4 khái niệm cốt lõi: thương mại quốc tế, thương mại song phương, cơ cấu thương mại và lợi thế so sánh bậc cao. Theo quy luật H-O, giá cả so sánh của sản phẩm được quyết định bởi giá cả các yếu tố sản xuất đầu vào và trình độ kỹ thuật công nghệ. Điều này giải thích vì sao Việt Nam có lợi thế xuất khẩu các mặt hàng thâm dụng lao động và tài nguyên thô, trong khi Australia chiếm ưu thế tuyệt đối ở các nhóm hàng thâm dụng tư bản, công nghệ cao và nông sản ôn đới.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp chính thống và chuẩn hóa từ Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC), Cơ sở dữ liệu Thống kê Thương mại Liên Hợp Quốc (UN Comtrade), Cục Thống kê Australia (ABS), Bộ Ngoại thương Australia (DFAT) và Tổng cục Thống kê Việt Nam. Cỡ mẫu nghiên cứu bao trùm toàn bộ chuỗi số liệu thống kê thương mại hàng hóa xuất nhập khẩu liên tục trong 11 năm (từ 2001 đến 2011, trong đó giai đoạn trọng tâm là 2005-2011) với 10 nhóm hàng hóa xuất nhập khẩu chủ lực theo mã HS 2 chữ số (phiên bản HS2007).

Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng nhằm đảm bảo tính bao quát, không bỏ sót các biến động chu kỳ kinh tế và tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009. Luận văn kết hợp các phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích tổng hợp, phân loại cơ cấu theo hệ thống phân loại ngành kinh tế rộng (BEC) của Liên Hợp Quốc và phân loại thương mại theo trình độ chế biến (TRIEC) của Australia. Lý do lựa chọn hệ thống phương pháp này là vì nó cho phép bóc tách chi tiết bản chất cơ cấu hàng hóa theo công dụng cuối cùng và hàm lượng chế biến tinh chế, từ đó cung cấp bằng chứng định lượng chính xác để so sánh hiệu quả thương mại của Việt Nam với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp như Thái Lan và Indonesia.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô thương mại song phương tăng trưởng nhanh về giá trị tuyệt đối nhưng sụt giảm về thị phần tương đối. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước tăng từ 3.079 triệu USD năm 2005 lên 4.865 triệu USD năm 2011, đạt mức tăng 58% với tốc độ tăng trưởng bình quân xấp xỉ 10%/năm. Tuy nhiên, thị phần hàng hóa Việt Nam trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Australia đã suy giảm mạnh từ 2,2% năm 2005 xuống chỉ còn 1,2% năm 2011. Tỷ trọng xuất khẩu sang Australia trong tổng xuất khẩu của Việt Nam cũng giảm liên tục từ 7,92% xuống còn 2,98% trong cùng thời kỳ.

Thứ hai, cán cân thương mại luôn duy trì trạng thái thặng dư lớn nghiêng về phía Việt Nam. Trong suốt giai đoạn 2001-2011, Việt Nam liên tục xuất siêu sang Australia, đạt mức đỉnh điểm 3.051 triệu USD vào năm 2008 và đạt 967 triệu USD năm 2011. Ở chiều ngược lại, kim ngạch nhập khẩu từ Australia tăng vọt với tốc độ bình quân 39%/năm, từ 510 triệu USD năm 2005 lên 1.949 triệu USD năm 2011, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng nhập khẩu chung của Việt Nam là 27%/năm.

Thứ ba, cơ cấu xuất khẩu bộc lộ sự thiếu bền vững do phụ thuộc nặng nề vào hàng nguyên liệu thô. Dù các mặt hàng như thiết bị điện tử (HS 85) tăng thị phần từ 0,3% lên 1,3% và thủy sản chế biến (HS 16) tăng từ 1,7% lên 8,7% tại Australia, mặt hàng dầu thô và nhiên liệu khoáng (HS 27) vẫn chiếm tỷ trọng chi phối. Khi Việt Nam giảm lượng dầu thô xuất khẩu vào năm 2009, tổng kim ngạch xuất khẩu sang Australia lập tức giảm sâu 44% (từ 4.399 triệu USD năm 2008 xuống 2.471 triệu USD năm 2009).

Thứ tư, vị thế thương mại của Việt Nam còn khoảng cách lớn so với các nước trong khối ASEAN. Năm 2011, tổng kim ngạch thương mại của Australia với toàn khối ASEAN đạt 68.238 triệu USD, chiếm 14,22% tổng ngoại thương của Australia. Việt Nam chỉ đứng thứ 5 trong khối, với quy mô kim ngạch chỉ bằng 23,4% của Singapore, 31,9% của Thái Lan và 43,5% của Indonesia.

Thảo luận kết quả

Khi trực quan hóa dữ liệu qua biểu đồ diễn tiến cán cân thương mại và biểu đồ miền cơ cấu hàng hóa theo phân loại TRIEC, nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự sụt giảm thị phần của Việt Nam được bộc lộ rõ nét. Việt Nam chủ yếu khai thác lợi thế so sánh bậc thấp dựa trên nguồn tài nguyên khoáng sản và nông sản thô, trong khi các đối thủ cạnh tranh đã bứt phá mạnh mẽ ở nhóm hàng công nghiệp chế biến.

Điển hình là kinh nghiệm của Thái Lan: nhờ ký kết và thực thi Hiệp định Thương mại Tự do Thái Lan - Australia (TAFTA) từ năm 2005, Thái Lan đã tái cơ cấu thành công danh mục xuất khẩu với hàng sản xuất công nghiệp chiếm tới 76,61% (trong đó hàng công nghiệp tinh chế chiếm 97%), đưa kim ngạch hai chiều đạt 15.239 triệu USD vào năm 2011. Đối với Indonesia, việc thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp (FDI) từ Australia đạt 3.654 triệu AUD năm 2011 (gấp 6,3 lần lượng vốn FDI Australia vào Việt Nam) đã tạo động lực thúc đẩy thương mại nội ngành mạnh mẽ. Như vậy, việc chậm chuyển dịch sang các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao và mức độ tận dụng các ưu đãi từ Hiệp định AANZFTA chưa sâu chính là rào cản lớn nhất của Việt Nam.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện chính sách kinh tế đối ngoại và tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại quốc gia. Bộ Công Thương cần chủ trì phối hợp với các cơ quan thương vụ xây dựng chiến lược xúc tiến thương mại chuyên biệt cho thị trường Australia giai đoạn 2012-2020, đặt mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa từ 12% đến 15%/năm và phấn đấu đưa tổng kim ngạch thương mại hai chiều vượt ngưỡng 10 tỷ USD vào năm 2020.

Thứ hai, cơ cấu lại danh mục hàng xuất khẩu theo hướng nâng cao tỷ trọng chế biến sâu. Các hiệp hội ngành hàng như thủy sản, dệt may, da giày và đồ gỗ nội thất cần hướng dẫn doanh nghiệp chuyển đổi từ xuất khẩu nguyên liệu thô sang các sản phẩm tinh chế có giá trị gia tăng cao. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ trọng hàng công nghiệp tinh chế đạt trên 45% tổng giá trị hàng xuất khẩu sang Australia trước năm 2018, đồng thời kiểm soát nghiêm ngặt các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm và rào cản kỹ thuật kiểm dịch động thực vật (SPS).

Thứ ba, đẩy mạnh thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài gắn liền với chuyển giao công nghệ từ Australia. Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng các địa phương cần ban hành chính sách ưu đãi đột phá nhằm thu hút các tập đoàn đa quốc gia của Australia đầu tư vào lĩnh vực năng lượng tái tạo, khai khoáng sạch và nông nghiệp công nghệ cao, phấn đấu nâng lũy kế vốn đăng ký FDI của Australia đạt mức 2,5 tỷ USD trong giai đoạn 2013-2020.

Thứ tư, tối ưu hóa việc tận dụng các cam kết cắt giảm thuế quan từ các hiệp định tự do thương mại. Doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần chủ động nghiên cứu quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định AANZFTA và đón đầu tiến trình đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), nâng tỷ lệ sử dụng chứng nhận xuất xứ ưu đãi thuế quan đạt trên 60% vào năm 2017 nhằm gia tăng sức cạnh tranh về giá trên thị trường Australia.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Các chuyên viên thuộc Bộ Công Thương, Bộ Ngoại giao và Bộ Kế hoạch và Đầu tư có thể sử dụng các phân tích thực chứng về hiệp định thương mại song phương và đa phương trong luận văn để làm cơ sở xây dựng chính sách ngoại thương, chuẩn bị phương án đàm phán các thỏa thuận kinh tế quốc tế giai đoạn mới.

Nhóm doanh nghiệp xuất nhập khẩu và xúc tiến thương mại: Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các ngành hàng nông thủy sản, đồ gỗ, may mặc và thiết bị điện tử có thể tra cứu bức tranh chi tiết về 10 nhóm hàng hóa mã HS 2 chữ số, từ đó nhận diện thị hiếu tiêu dùng, rào cản kỹ thuật và xây dựng lộ trình thâm nhập sâu vào chuỗi phân phối tại Australia.

Nhóm nghiên cứu, viện chiến lược và giảng viên kinh tế: Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà khoa học đang nghiên cứu về thương mại quốc tế, cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh kết hợp giữa mô hình Heckscher-Ohlin và các hệ thống phân loại hiện đại như BEC và TRIEC.

Nhóm học viên cao học và sinh viên đại học chuyên ngành Kinh tế đối ngoại: Công trình mang lại phương pháp luận nghiên cứu thực chứng chuẩn mực, hướng dẫn cách khai thác, xử lý chuỗi dữ liệu kinh tế vĩ mô từ các cơ sở dữ liệu quốc tế như UN Comtrade, ITC và ABS để ứng dụng vào các đề tài nghiên cứu học thuật.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao Việt Nam liên tục đạt thặng dư thương mại lớn với Australia trong giai đoạn 2005-2011?

Việt Nam luôn duy trì xuất siêu sang Australia (đạt 2.059 triệu USD năm 2005 và 967 triệu USD năm 2011) chủ yếu nhờ xuất khẩu khối lượng lớn dầu thô, thủy sản và hạt điều. Tuy nhiên, mức thặng dư có xu hướng thu hẹp do Việt Nam giảm dần xuất khẩu dầu thô và tăng mạnh nhập khẩu nguyên liệu lúa mì, sắt thép phế liệu với tốc độ tăng 39%/năm.

Hiệp định AANZFTA có hiệu lực từ năm 2010 đã tác động như thế nào đến quan hệ thương mại hai nước?

Hiệp định AANZFTA đã tạo khuôn khổ pháp lý toàn diện với lộ trình xóa bỏ thuế quan cho hơn 90% dòng thuế. Nhờ hiệp định này, nhóm hàng thiết bị điện tử của Việt Nam đã tăng thị phần lên 1,3% và thủy sản chế biến đạt 8,7% trong tổng nhập khẩu của Australia vào năm 2011, mở ra dư địa tăng trưởng mới cho các mặt hàng phi khoáng sản.

Đâu là nguyên nhân khiến kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Australia sụt giảm mạnh vào năm 2009?

Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu giảm sâu 44%, từ 4.399 triệu USD năm 2008 xuống còn 2.471 triệu USD. Nguyên nhân trực tiếp là do tác động lan tỏa từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu làm suy giảm tổng cầu tiêu dùng, kết hợp với việc Việt Nam chủ động điều chỉnh giảm lượng dầu thô xuất khẩu sang thị trường Australia.

Việt Nam có thể rút ra bài học kinh nghiệm gì từ mô hình thương mại của Thái Lan với Australia?

Thái Lan đạt quy mô kim ngạch 15,24 tỷ USD năm 2011 nhờ ký kết sớm Hiệp định TAFTA năm 2005 và tập trung phát triển các ngành công nghiệp chế tạo có giá trị gia tăng cao (chiếm 76,61% tổng xuất khẩu). Việt Nam cần học tập kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu sang các sản phẩm công nghiệp tinh chế như máy móc và ô tô.

Vì sao luận văn sử dụng kết hợp hai hệ thống phân loại hàng hóa TRIEC và BEC?

Hệ thống TRIEC của Australia phân loại hàng hóa theo trình độ chế biến từ thô đến tinh chế, giúp nhận diện rõ sự phụ thuộc của Việt Nam vào tài nguyên thô. Trong khi đó, hệ thống BEC của Liên Hợp Quốc phân loại theo mục đích sử dụng cuối cùng, giúp đánh giá chính xác tác động của hàng nhập khẩu đối với hoạt động sản xuất trong nước.

Kết luận

  • Quy mô thương mại song phương Việt Nam - Australia đạt bước tăng trưởng vượt bậc từ 3,08 tỷ USD năm 2005 lên 4,87 tỷ USD năm 2011, luôn đảm bảo cán cân thương mại thặng dư vững chắc cho Việt Nam.
  • Tồn tại nghịch lý lớn khi thị phần hàng hóa Việt Nam tại Australia bị thu hẹp từ 2,2% xuống 1,2%, phản ánh sự sụt giảm sức cạnh tranh tương đối so với các nền kinh tế đối thủ trong khối ASEAN.
  • Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu bộc lộ điểm yếu kém bền vững do phụ thuộc nặng nề vào tài nguyên khoáng sản thô, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tái cấu trúc sang nhóm hàng công nghiệp tinh chế có giá trị gia tăng cao.
  • Tận dụng tối đa các cam kết cắt giảm thuế quan từ Hiệp định AANZFTA và đón đầu các hiệp định thương mại thế hệ mới như TPP là chìa khóa mở rộng dung lượng thị trường trong giai đoạn 2012-2020.
  • Đẩy mạnh thu hút dòng vốn FDI từ Australia gắn liền với chuyển giao công nghệ cao sẽ tạo nền tảng vững chắc để thúc đẩy chuỗi giá trị thương mại song phương phát triển cân bằng và hiệu quả.

Luận văn đã giải quyết trọn vẹn khoảng trống nghiên cứu thực chứng về thương mại song phương Việt Nam - Australia, cung cấp hệ thống luận cứ khoa học và giải pháp thực tiễn cho lộ trình hội nhập giai đoạn 2012-2020. Hãy liên hệ ngay với tác giả để tiếp cận toàn văn công trình nghiên cứu và nhận các tư vấn chuyên sâu về chiến lược phát triển thị trường quốc tế.