mở đầu cho việc xây dựng nhiều lý thuyết di dân mới đó là Lý thuyết của Ravenstein. Ravenstein (1885) đã phát triển và thể hiện lý thuyết trên dưới các quy luật di dân có liên quan đến quy mô dân số, mật độ, khoảng cách di dân. Từ đó khái quát hóa những quy luật di dân. Cụ thể: + Phần lớn các cuộc di dân diễn ra với khoảng cách ngắn.
+ Quy mô di dân tỷ lệ thuận với dân số gốc nơi người dân ra đi. + Đối với mỗi dòng di dân đều tồn tại những dòng di chuyển ngược để bù đắp. + Trong một quốc gia, người dân gốc thành thị thường ít di chuyển hơn so với người gốc nông thôn. n 9 + Sự di chuyển từ vùng sâu, vùng xa vào thành phố phần lớn diễn ra theo các giai đoạn.
+ Động lực chính của di dân là động cơ kinh tế. + Phần lớn nữ giới di dân theo khoảng cách ngắn hơn so với nam giới. - Trên cơ sở phát triển lý thuyết Ravenstein, một số lý thuyết di dân mới cho rằng khoảng cách cơ học không có ý nghĩa quan trọng, người di cư lựa chọn nơi định cư tại nơi có các cơ hội sống mà họ chấp nhận được, cho dù khoảng cách di chuyển có thể lớn – đó là cơ sở hình thành nên quyết định di dân. Có thể thấy di dân không chỉ đơn thuần là dịch chuyển của dân cư (di cư), của con người, của lao động mà còn là quá trình dịch chuyển, giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng có đặc trưng văn hóa khác nhau.
Người nhập cư tạo dựng sinh kế ở nơi đến, du nhập văn hóa của người sở tại, đồng thời cũng có ảnh hưởng trở lại đối với văn hóa của cộng đồng này; có thể nói thông qua di dân, người nhập cư có thêm cơ hội giao lưu, tiếp thu các yếu tố mới (văn hóa – xã hội – kinh tế) nhưng vẫn giữ gìn bản sắc của dân tộc và quê hương cũ (nơi xuất cư). Từ đó mà có nhiều cách phân loại di dân theo các giác độ khác nhau như: theo nguyện vọng bản thân (Di dân tự nguyện, Di dân không tự nguyện); theo hình thức (di dân tập trung, di dân xen ghép).” Như vậy, vận dụng những lý thuyết trên vào phân tích, làm rõ, mô tả, quy trình thực hiện bố trí dân cư; ta có thể thấy bố trí dân cư cần tuân thủ một số quy luật như sau: - Quyết định di chuyển đến nơi ở mới theo quy trình bố trí dân cư phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong đó động lực kinh tế là động lực chính. Ngoài ra quyết định di chuyển còn bị chi phối chủ yếu bởi các yếu tố văn hóa, xã hội ở những cấp độ khác nhau.
n 10 - Khoảng cách cơ học không có ý nghĩa quan trọng, người di cư lựa chọn nơi định cư tại nơi có các cơ hội sống mà họ chấp nhận được, cho dù khoảng cách di chuyển có thể lớn – đó là cơ sở hình thành nên quyết định di dân, di chuyển đến nơi ở mới theo quy trình bố trí dân cư. - Người dân gốc thành thị thường ít di chuyển hơn so với người gốc nông thôn. - Quá trình di dân, di chuyển đến nơi ở mới theo quy trình bố trí dân cư được duy trì và thúc đẩy cùng với sự phát triển của mạng lưới xã hội đã được hình thành theo thời gian. Chương trình Di dân, bố trí dân cư ở nước ta a) Di dân ở nước ta qua các thời kỳ Trải qua các thời kỳ khác nhau, công tác di dân đã có nhiều thay đổi về tổ chức, cơ chế chính sách, địa bàn và đối tượng thực hiện song kết quả thu được đã góp phần rất lớn vào mục tiêu phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới.
Theo Đặng Nguyên Anh (2006) Chính sách di dân vùng kinh tế mới [2,121(09), tr.8-17], sự phát triển của Chương trình chia thành bốn giai đoạn sau: - Giai đoạn 1961-1975: Đây là những năm kháng chiến chống Mỹ ở Việt Nam, đất nước bị chia cắt thành 2 miền với 2 nhiệm vụ chính trị khác nhau là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Chương trình vận động đưa dân lên khai hoang ở miền núi giai đoạn này nhằm mục đích mở rộng diện tích canh tác, tăng sản lượng lương thực để giải quyết đời sống nhân dân và phục vụ tiền tuyến; hướng di dân chủ yếu từ đồng bằng sông Hồng lên các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc. Chính sách di dân trong thời kỳ này chủ yếu là vận động quần chúng kết hợp với hình thức tổ chức hợp tác xã để vận động đồng bào miền xuôi lên khai hoang miền núi. n 11 - Giai đoạn 1976-1985: Đây là thời kỳ đất nước thống nhất, song Việt Nam đã gặp nhiều khó khăn do cuộc chiến bảo vệ biên giới trong điều kiện cá thế lực phản động trong và ngoài nước luôn tìm cách chống phá chính quyền cách mạng.
Sản xuất nông nghiệp chậm phát triển, lương thực không đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước, một số tỉnh miền Bắc đứng trước nguy cơ đói kém mỗi khi mất mùa, trong khi đó ở miền Nam, diện tích đất hoang hóa chưa sử dụng còn nhiều, tiềm năng sản xuất lúa khá lớn. Công tác di dân thời kỳ này được hết sức chú trọng và tiến hành quy mô lớn trên phạm vi cả nước. Các nguồn di dân kinh tế mới tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Trong khoảng thời gian này, đã có 3 quyết sách lớn được hình thành là: chính sách xây dựng vùng kinh tế mới; chính sách khuyến khích khai hoang phục hóa; chính sách điều động và tuyển dụng lao động vào làm việc tại nông trường, lâm trường quốc doanh tại các vùng kinh tế mới.
- Giai đoạn 1986-1995: Giai đoạn này tình hình đất nước và thế giới có nhiều biến động. Công tác di dân nói chung gặp nhiều khó khăn. Các chính sách di dân trong thời ký trước tỏ ra không phù hợp. Việc đưa dân đi cũng gặp nhiều hạn chế do thiếu vốn đầu tư, đất sản xuất.
Thực tế đã đặt ra nhiệm vụ trọng tâm đối với công tác di dân là tiếp tục tập trung mở rộng sản xuất lương thực, đổi mới phương thức di dân trong giai đoạn phát triển mới. Trong giai đoạn này công tác di dân được tiến hành theo kế hoạch và dự án trong đó chi phí cho công tác tổ chức thực hiện được cấp thẩm quyền phê duyệt. Các quyết định, quy định đầu tư tập trung cho vùng dự án tiếp nhận dân và tập trung trợ cấp cho các hộ dân đi. Giai đoạn này bắt đầu xuất hiện tình trạng dân di cư tự do và ngày càng diễn ra trên quy mô lớn.
- Giai đoạn 1996-2002: Khác với giai đoạn trước, công tác di dân được tổ chức thực hiện lồng ghép với các chương trình có mục tiêu của Nhà nước trong đó nhấn mạnh việc sử dụng triệt để đất hoang hóa; ngày càng gắn với n 12 mục tiêu xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội ở các vùng đặc biệt khó khăn. Nhận thấy đối tượng di dân chủ yếu là người nghèo với mong muốn có đất sản xuất và việc làm nên trong giai đoạn này việc tạo điều kiện cho người nghèo có đất sản xuất là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo quốc gia. Di dân để phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp vùng đặc biệt khó khăn được đưa vào các chương trình phát triển kinh tế- xã hội. Song song với mục tiêu giảm nghèo, công tác di dân giai đoạn này còn gắn với mục tiêu bảo vệ an ninh quốc phòng khu vực biên giới, đặc biệt khó khăn.
Hình thái di dân chủ yếu là nội vùng (tỉnh, huyện, xã). b) Chương trình Bố trí dân cư Từ năm 2003, cụm từ “Bố trí dân cư” được bắt đầu được đưa vào sử dụng trong các văn bản chính sách của Nhà nước. Theo Quyết định số 190/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 16/9/2003 [18], Chương trình Bố trí dân cư tập trung khai thác tiềm năng lao động, đất đai phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, thực hiện xóa đói, giảm nghèo, ổn định và nâng cao đời sống của người dân; hạn chế tới mức thấp nhất tình trạng dân di cư tự do; đồng thời hình thành các điểm dân cư mới, có đủ cơ sở hạ tầng thiết yếu, phục vụ phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội một cách bền vững cho người dân, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội. Hiện nay, chương trình bố trí dân cư đang được triển khai thực hiện theo Quyết định số 1776/QĐ-TTg ngày 21/11/2012 [21] của Thủ tướng Chính phủ với mục tiêu là thực hiện quy hoạch, bố trí ổn định dân cư tại các vùng: Thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, ổn định dân di cư tự do, khu rừng đặc dụng, nhằm ổn định và nâng cao đời sống của người dân, hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do thiên tai, di cư tự do; giải quyết việc làm, tăng thu nhập, góp n 13 phần giảm nghèo, bảo vệ môi trường và củng cố an ninh, quốc phòng.
Trong khuôn khổ của Luận văn, tôi đề cập tới việc nghiên cứu về thực trạng thực hiện Chương trình bố trí dân cư theo Quyết định số 1776/QĐ-TTg ngày 21/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ trong khu vực biên giới Việt – Lào của tỉnh Điện Biên; từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả của Chương trình. Theo Quyết định số 1776/QĐ-TTg [21], Chương trình bố trí dân cư được thực hiện trên cơ sở quy hoạch bố trí dân cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt; theo mục tiêu, đối tượng và quy trình thực hiện bố trí dân cư được các Bộ ngành Trung ương hướng dẫn; nhằm ổn định và nâng cao đời sống của người dân, hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do thiên tai, di cư tự do; giải quyết việc làm, tăng thu nhập, góp phần giảm nghèo, bảo vệ môi trường và củng cố an ninh, quốc phòng. * Quy hoạch bố trí dân cư Quy hoạch bố trí dân cư được hiểu là bản luận chứng khoa học về chủ trương, kế hoạch bố trí dân cư theo các đối tượng di dân và tổ chức không gian hợp lý các điểm dân cư gắn với phát triển sản xuất, xây dựng kết cấu hạ tầng và ổn định đời sống dân cư trên một địa bàn.