CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH GIAI ĐOẠN 2011-2015 1. Một số điều kiện Tự nhiên, Kinh tế - Xã hội của tỉnh Hà Tĩnh có ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư phát triển kinh tế của Tỉnh. “Với Hà tĩnh mình! răng mà thương mà nhớ”. Đó là câu hát thân thương mà quen thuộc với mỗi người con Hà Tĩnh.
Hà Tĩnh là tỉnh thuộc vùng Duyên hải Bắc Trung bộ, phía Bắc giáp tỉnh Nghệ An, phía Nam giáp Quảng Bình, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào ; cách Thủ đô Hà Nội 340km về phía bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 1.348km về phía nam; diện tích đất tự nhiên 6.025,6 km2, dân số gần 1,3 triệu người, trong đó có 52,6% dân số trong độ tuổi lao động. Với điều kiện vị trí thuận lợi, cùng với sự phát triển của Khu kinh tế Vũng Áng, Cụm cảng biển nước sâu Vũng Áng – Sơn Dương, Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo,. Hà Tĩnh trở thành nút giao thông quan trọng, cửa ngõ giao lưu quốc tế giữa các nước trong khu vực (Việt Nam – Lào – Thái Lan – Myanmar – Trung Quốc. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên So với các địa phương khác trong vùng, Hà Tĩnh được thiên nhiên ưu đãi và ban tặng vị trí địa lý thuận lợi và các điều kiện tự nhiên phong phú.
Đây là những lợi thế cho tỉnh thực hiện có hiệu quả các hoạt động đầu tư phát triển các ngành, các lĩnh vực kinh tế quan trọng, cụ thể: Ảnh hưởng đến đầu tư phát triển ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Thứ nhất, Hà Tĩnh ở vị trí thuận lợi về giao thông đường bộ và đường thủy. Hà Tĩnh có 137 km bờ biển với nhiều cảng, đặc biệt là cảng nước sâu Vũng Áng, Sơn Dương cho phép tiếp nhận tàu từ 5 vạn đến 40 vạn tấn; có hệ thống giao thông đường bộ thuận tiện với các tuyến quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh chạy dọc địa bàn và các tuyến quốc lộ 8A, đường 12 nối liền hành lang Đông – Tây thuận lợi cho việc giao lưu phát triển KT -XH với nước CHDCND Lào và các tỉnh vùng Đông – Bắc Thái Lan. Hà Tĩnh không phải là một tỉnh lớn, diện tích cũng vừa phải nhưng vị trí của Hà Tĩnh có nhiều tiềm năng phát triển và mở rộng mối quan hệ liên vùng. Với vị trí giáp biển, tỉnh có nhiều điều kiện để ~3~ xây dựng các cảng biển, tạo điều kiện giao thương trong nước và quốc tế cũng như phát triển kinh tế biển và du lịch.
Điều này chính là những yếu tố gắn bó chặt chẽ Hà Tĩnh với các địa phương khác và tạo điều kiện thuận lợi để Hà Tĩnh tiếp nhận kịp thời các thông tin, thành tựu khoa học và kỹ thuật của thế giới; tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, khu vực và cùng hoà nhập vào quá trình phát triển năng động của các tam giác phát triển quốc tế. Với vị trí địa lý thuận lợi như vậy thích hợp để tỉnh thực hiện các hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp và các dịch vụ như: thương nghiệp, vận tải, dịch vụ……. Thứ hai, Hà Tĩnh có hệ thống sông ngòi khá dày đặc, có đặc điểm chung là chiều dài ngắn. Địa hình bờ biển Hà Tĩnh có một số vùng biển sâu, diện tích mặt nước rộng như Vũng Áng, vũng Sơn Dương (độ sâu trung bình từ 8-12m) là điều kiện thuận lợi để xây dựng cảng biển, cầu tàu giúp vận chuyển hàng hóa, nguyên vật liệu giao thương với khu vực và thế giới Thứ ba, Vùng đồng bằng chạy dọc hai bên Quốc lộ 1A theo chân núi Trà Sơn và dải ven biển với địa hình tương đối bằng phẳng do quá trình bồi tụ phù sa của các sông, phù sa biển trên các vỏ phong hoá Feralit hay trầm tích biển.
Những đặc điểm địa hình, địa chất này giúp Hà Tĩnh thuận lợi trong việc tiến hành đầu tư xây dựng các khu kinh tế để phát triển vùng. Hà Tĩnh có Khu kinh tế Vũng Áng được xem là khu kinh tế ven biển trọng điểm quốc gia, với sản phẩm công nghiệp chủ lực là thép (22,5 triệu tấn), nhiệt điện (7.000MW) và dịch vụ cảng nước sâu với 59 cầu cảng cho tàu từ 5 vạn đến 30 vạn tấn cập bến. KKT Vũng Áng có quỹ đất rộng phù hợp cho xây dựng phát triển công nghiệp và đô thị. Mặt khác thiên nhiên ban tặng cho vùng đất này một địa hình đa dạng phong phú, có điều kiện cho phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và đặc biệt là du lịch biển.
Bên cạnh đó còn có Khu công nghiệp Gia Lách(huyện Nghi Xuân) với quy mô 300 ha, các ngành công nghiệp được ưu tiên phát triển là dệt may, giày da, điện- điện tử, chế biến lương thực thực phẩm, vật liệu xây dựng. Khu công nghiệp thị xã Hồng Lĩnh, Hạ Vàng với 250 ha, phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng, lắp ráp cơ khí, chế tạo phụ tùng điện, điện tử, chế biến nông lâm, thủy sản, sản xuất đồ gia dụng và một số ngành ~4~ công nghiệp khác. Khu công nghiệp thành phố Hà Tĩnh gắn với mỏ sắt Thạch Khê và quy hoạch phát triển thành phố Hà Tĩnh. Ngoài ra Hà Tĩnh có một số cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, cụm làng nghề như cụm CN-TTCN Thạch Quý (t.p Hà Tĩnh), cụm TTCN làng nghề Trung Lương (TX Hồng Lĩnh), cụm CN-TTCN làng nghề Thái Yên (Đức Thọ).
Thứ tư, nguồn tài nguyên khoáng sản dồi dào , phong phú cũng là một tiềm năng để góp phần vào việc phát triển công nghiệp của tỉnh. Hà Tĩnh có tiềm năng lớn về khoáng sản, nhưng chưa được đầu tư khai thác mạnh mẽ. Hà Tĩnh có mỏ sắt Thạch Khê với trữ lượng lớn, trong tương lai đây sẽ là trung tâm công nghiệp luyện thép của miền Trung, là hạt nhân để tiến hành công nghiệp hóa nền kinh tế của tỉnh. Mỏ sắt Thanh Khê thuộc huyện Thạch hà, cách thành phố Hà Tĩnh 6km về phía đông, có trữ lượng trên 500 triệu tấn.
Đây là mỏ có hàm lượng sắt 62,15% nằm sâu dưới mặt đất chừng 40-100m. Bên cạnh đó, Mỏ thiếc Sơn Kim thuộc huyện Hương Sơn, cách thành phố Hà Tĩnh 105km về phía Tây. Ngoài ra còn có mỏ than ở Hương Khê, mỏ vàng ở Kỳ Anh, Hương Khê. Sa khoáng oxit titan trữ lượng từ 2-5 triệu tấn phân bố dọc theo bờ biển.
Cát, sỏi và các vật liệu xây dựng khác cũng có trữ lượng khá phong phú. Đá các loại (có đá hoa cương) là nguồn lợi quan trọng cho nền kinh tế tỉnh. Đá phân bố ở nhiều nơi nhưng tập trung chủ yếu ở Kỳ Anh, Thạch Hà, Hương Sơn, Hồng Lĩnh. Với những lợi thế về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên như trên, cùng với môi trường đầu tư thuận lợi, trong những năm gần đây, Công nghiệp Hà Tĩnh đã có bước phát triển mang tính đột phá.
Tổng giá trị sản phẩm công nghiệp tăng mạnh. Hà Tĩnh cũng chú trọng vào việc củng cố các cơ sở san xuất công nghiệp, tập trung đầu tư một số cơ sở mới. Bên cạnh đó, đã quy hoạch và phát triển các làng nghề, xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất công nghiệp như: chế biến thủy sản, khai khoáng, mạng lưới điện và giao thông, bến cảng,. Sự ra đời của các khu công nghiệp gắn với Khu kinh tế đã tạo thuận lợi cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Tỉnh theo hướng CNH-HĐH.
Đến nay, toàn Tỉnh có 4 khu công nghiệp, 11 cụm công nghiệp được phê dyệt quy hoạch chi tiết (trong đó có 6 cụm đã có nhà đầu tư vào) với tổng diện tích 363,61 ha. Hiện có 64 dự án đăng ký ~5~ đầu tư vào các cụm công nghiệp với số vốn 956 tỷ dồng. ngoài ra, toàn tỉnh có 3 cụm làng nghề tập trung Ảnh hưởng đến đầu tư phát triển ngành nông-lâm nghiệp- thủy sản: Nông nghiệp: Đất của Hà Tĩnh cũng như các tỉnh miền Trung không được màu mỡ, chủ yếu là đất feralit. Phần hạ lưu của các con sông là những cánh đồng nhỏ hẹp được bồi đắp bởi phù sa, thích hợp cho việc trồng các cây lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày.167 ha đất nông nghiếp chiếm 19,5 % diện tích đất tự nhiên.
Điều kiện khí hậu khắc nghiệt của tỉnh Hà Tĩnh nên bắt buộc phải canh tác nhiều loại cây trồng để thích ứng với điều kiện tự nhiên, đặc biệt là do mùa đông ngắn hơn các tỉnh phía Bắc nên có thể tăng vụ. Vùng đồng bằng gồm phần lớn diện tích của thành phố Hà Tĩnh, huyện Nghi Xuân, Đức Thọ, Thạch hà, Cẩm Xuyên là vùng sản xuất lúa trọng điểm của tỉnh, Vùng ven biển thì thích hợp trồng cây công nghiệp ngắn ngày như: đậu, lạc, vừng. Ngành chăn nuôi Hà Tĩnh ngày càng phát triển. Miền núi là nơi phát triển chăn nuôi gia súc (trâu, bò,hươu.
vùng đồng bằng và ven biển là nơi phát triển chăn nuôi lợn và gia cầm. Hệ thống cửa sông và cửa lạch ven biển: có 4 cửa biển chính là Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Nhượng, Cửa Khẩu. Các hồ đập chứa trên 600 triệu m3 nước, cùng với hệ thống Trạm bơm Linh Cảm, hệ thống Sông La, Ngàn Sâu, Ngàn Phố thì lượng nước phục vụ cho sinh hoạt, công nghiệp và tưới cho cây trồng ở Hà Tĩnh là khá lớn. Lâm nghiệp: Hà Tĩnh hiện có trên 300.000 ha rừng và đất rừng, trong đó diện tích rừng chiếm 66%, còn lại trên 100.000 ha đất trống, đồi trọc, đất cây bụi và bãi cát.
Rừng tự nhiên có 164.978 ha, trong đó ừng sản xuất kinh doanh là 100.000 ha, ừng phòng ộ 63. Trữ lượng gỗ 20 triệu m3, hàng năm khai thác khoảng 2-3 triệu m 3. Rừng Hà Tĩnh chủ yếu là rừng trung bình và rừng nghèo. Rừng giàu chỉ chiếm 10%, rừng trung bình chiếm 40%, còn lại 50% là rừng nghèo kiệt.
Đất không có rừng còn nhiều, trong đó có một số diện tích đất ở các sườn dốc đang bị xí mòn nghiêm trọng. Ở vùng sát bờ biển chủ yếu trồng rừng phòng hộ ven biển (đáng chú ý nhất là vùng ven biển Nam Hà Tĩnh trở vào vì ở đây tình trạng cát bay, cát nhảy thường xuyên xảy ra ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân). Chủng loại cây trồng được lựa chọn cho ~6~ phát triển rừng trồng ngập mặn và rừng chắn sóng, chắn cát chủ yếu là các loại cây: phi lao, sú vẹt, đước. Các giống phi lao mới của Trung Quốc có độ chịu hạn cao và nhanh lớn đưa vào trồng ở các vùng đất cát ven biển tạo ra hệ thống đai rừng phòng hộ.