CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIEN VE NSNN, THU NSNN CAP QUẬN 1. Khái quát về NSNN 1. Khái niệm, chức năng của NSNN a.
Khai niệm NSNN ra đời cùng với sự xuất hiện của NN và xuất phat từ nhu cầu KT dé bao đảm quyền lực chính tri; thực hiện chức năng, trách nhiệm của mình va quyết định thu chi của NSNN. Điều 1, Luật NSNN Việt Nam (số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002) do Quốc hội ban hành quy định: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thâm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm dé bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Luật NSNN 2015 được Quốc hội thông qua ngày 25/6/2015, có hiệu lực từ năm NS 2017, thay thế Luật NSNN năm 2002. Luật NSNN 2015 tiếp tục kế thừa các điều lệ của Luật NSNN năm 2002 hiện hành đảm bảo tính nhất quán của NSNN và là hành lang pháp lý mới hoàn thiện và đồng bộ hơn, đáp ứng với tình hình thực tế, xu hướng hội nhập quốc tế hiện nay và đóng góp đáng ké vào quá trình cải cách tài chính công theo xu hướng hiện đại.
Theo Điều 4, Luật NSNN Việt Nam năm 2015 quy định: “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nha nước có thẩm quyền quyết định dé bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” (Quốc Hội, 2015, Điều 4). Như vậy, theo Luật NSNN năm 2015: “Phạm vi thời gian các khoản thu, chi của NN phải được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định không còn là trong một năm như Luật NSNN năm 2002.” Nội dung chính của NS là thu chi, không chỉ phản ánh qua các con số, mà còn cho thấy quy mô và mức tăng giảm của số lượng tiền tệ, cũng như các chủ trương, chính sách của NN; cho thấy mối quan hệ TC giữa các cấp chính quyền (hay còn gọi là cấp NS); giữa NN và các tác nhân KT khác của XH trong quá trình phân bổ lực lượng lao động và phân phối lại thu nhập. Như vậy, đối với hình thức: NSNN là tập hợp các khoản thu chi của NN nằm trong kế hoạch, được cơ quan NN có thâm quyền phê duyệt (Quốc hội) và được triển khai trong một khoảng thời gian nhất định dé bảo đảm việc thực hiện chức năng, trách nhiệm của NN. 13 Về nội dung, quỹ tiền tệ với các khoản thu chi hiện điện dưới hình thức NSNN, NSNN là toàn bộ các quan hệ KT nay sinh trong quá trình phân bồ các nguồn lực TC của NN nhằm đảm bảo việc thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của NN.
Chức năng của NSNN NSNN là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của NN, là công cụ cần thiết dé NN thực hiện điều tiết vĩ mô nền KT-XH. Chức năng chính của NSNN là huy động các nguồn thu một cách hợp lý và tô chức công tác quản lý chỉ tiêu NSNN. Cụ thể: Thứ nhất, chức năng phân phối NSNN: Nguồn NSNN là yếu tố cần thiết dé đảm bảo bộ máy NN hoạt động một cách bình thường và ôn định. Từ đó, giúp NN hoàn thành tốt các chức năng, nghĩa vụ đời sống XH một cách toàn diện.
NN đã áp dụng các chính sách cưỡng chế các thành viên trong XH đóng góp những nguồn lực TC cần thiết bằng quyên lực tối cao của mình. Tuy nhiên, dé tạo nên nguồn lực đó cần sự phát triển KT và nâng cao SX. Do đó, muốn huy động nhiều và hiệu quả nguồn thu NSNN, thì SXKD nói riêng và nguồn thu NSNN nói chung phải bền vững, tốc độ và hiệu quả cao. Vì vậy, NN cần phải năm chắc và tôn trọng quy luật KT khách quan trong quá trình quản lý KT-XH cũng như phải đảm bảo sự hài hoà các mối quan hệ lợi ích của các chủ thể trong nền KT.
Khi cơ chế phân bổ NS bao đảm không mất đối xứng. Từ đó, tạo động lực phát triển SXKD, nuôi dưỡng nguồn thu từ đó tăng nhu cầu chỉ tiêu của NSNN thì đó là một NSNN vững mạnh. Ngoài ra, một NSNN vững mạnh còn phải cho thấy sự đúng dan, khả thi trong việc phân phối và quan lí chi tiêu. NN sử dụng vào mục đích phát triển KT-XH va cho bộ máy NN hoạt động bình thường thông qua nguồn thu NSNN.
Có thé thay, NSNN không chỉ huy động nguồn thu mà còn có chức năng quản lý và phân bổ tiêu dùng tiết kiệm, hiệu quả. Thứ hai, chức năng giám đốc trong công tác nhiệm thu thu và thực thi các khoản chi tiêu. Để nắm rõ nguồn thu — chi qua từng thời ky, từng giai đoạn NN cần thông qua NSNN. Từ đó, NN vạch ra những giải pháp để khắc phục những khó khăn cũng như đưa ra cơ chế thu chi phù hợp, quan sát những nhân tô ảnh hưởng và các phát sinh không đáng có.
Tóm lại, NSNN có hai chức năng chính: phân phối và giám đốc. Nếu thiếu một trong hai chức năng, NSNN không thê cân đối được do: Việc khuyến khích khai thác hợp lý các nguồn thu mà không có chức năng giám đốc sẽ khiến that thu dưới 14 nhiều hình thức. Và ngược lại, NN không thé huy động thu NS được nếu thiếu chức năng phân phối. Chức năng phân phối và chức năng giám đốc của NSNN là riêng biệt nhưng luôn bổ sung cho nhau.
Do đó, cần coi trọng và tô chức chỉ đạo để các cơ quan chức năng ở trung ương và địa phương thực hiện tốt hai chức năng đó của NSNN. Vai trò của NSNN Một là, thúc day tăng trưởng KT: NSNN hình thành nguồn TC dé NN dau tư hoàn thiện các công trình KCHT và cho các ngành KT trọng điểm mũi nhọn. NSNN tạo điều kiện thuận lợi cho sự mở rộng của DN khi bảo đảm cho sự vững chắc về cơ chế hay chuẩn bị thay thế sang cơ chế mới phù hợp hơn. NSNN đóng vai trò tiên quyết trong công tác hỗ trợ nguồn vốn cho các DN từ đó mở rộng qui mô sản xuất góp phan làm cho nền KT tăng trưởng và phát trién.
Nhờ NS ta có thể huy động các nguồn vay trong và ngoài nước nhăm hình thành thêm nguồn vốn cho nền KT dé đáp ứng cho nhu cầu đầu tư phát triển. Hai là, điều tiết thị trường giá cả và chống lạm phat. Nhăm bảo đảm lợi ích cho các chủ thể nền KT, NN sử dụng NS đề thâm nhập vào thị trường bang việc NSNN chỉ tiêu dưới hình thức hỗ trợ TC, trợ giá và khai thác các quỹ tiền tệ và hàng hoá dự bị. Trong quá trình CNH-HĐH, NSNN còn ảnh hưởng đến sự hoạt động của thị trường tiền tệ, thị trường vốn nhằm kiểm soát lạm phát.
NN rot tiền từ Ngân hang thông qua việc tăng lãi suất tiền gửi ngân hang khi có lạm phát. Đề kiểm soát lạm phát NN áp dụng các chính sách: cân bằng NSNN, sử dụng các nguồn vốn vay nội và ngoại địa qua việc phát hành trái phiếu, cô phiếu trên thi trường chứng khoán, thu hút đầu tư nước ngoài, can thiệp vào thị trường vốn với tư cách là người mua và bán chứng khoán. Ba là, điều tiết thu nhập dân cư dé góp phan thực hiện công bằng XH. Với sự phân hóa KT-XH ngày nay, NN cần phải có biện pháp hợp lý khuếch tán lại thu nhập nhằm hạn chế sự lệch lạc về thu nhập của người dân.
NN sử dụng NSNN như một công cụ TC hiệu quả dé điều tiết thu nhập của nhân dân trên toàn XH dưới hình thức áp dụng thuế trực thu, thuế gián thu, chi phúc lợi XH, chi trợ cấp với những người thuộc diện tham gia chính sách XH của NN. Phân cấp quản lý NSNN Phân cấp quản lý NS được định nghĩa là việc khoanh vùng quy mô, nhiệm vụ và thầm quyền của cơ quan chính quyền đối với các cơ sở hạch toán NS trong công tác quản lí NSNN tương thích với phân cấp quản lý KT-XH. Đó là một trong những giải pháp quản ly NSNN. Có thê hiểu là, việc phân bổ nhiệm vụ và quyền hạn trong quản lí hoạt động của NSNN tới chính quyền các cấp đề đạt được hiệu quả tốt nhất.
Được triển khai theo hình thức nhất quán, tập trung dân chủ. Nội dung chủ yếu là: Tập trung da số nguồn thu lớn, 6n định cho ngân sách trung ương, đồng thời huy động nguồn thu cho NSĐP. Do đó, nguồn thu có 3 loại: Một là, các khoản thu NSTW hưởng 100%; Hai là, các khoản thu NSDP hưởng 100%; Ba là, các khoản thu điều tiết theo tỷ lệ phan trăm giữa NSTW và NSDP. Và dựa trên 4 quy tắc: Dau tiên, phân cấp quản lý KT-XH, ANQP và cơ chế quản lý phải phù hợp với từng cấp địa phương.
Hai là, bảo đảm chức năng tiên quyết của ngân sách trung ương và vị trí duy nhất của ngân sách địa phương trong tổ chức NSNN đồng nhất. Ba là, chọn lọc và quy định chi tiết nhiệm vụ thu chi của từng cấp NS; xác định nguồn thu và nhiệm vụ chi nào gắn với NSTW, NSĐP. Qua đó, làm rõ thẩm quyền, nhiệm vụ của từng cấp, là cơ sở cho cơ quan chính quyền chủ động triển khai nghĩa vụ phát triển KT-XH. Cuối cùng, bảo đảm nguyên tắc công bằng trong phân cấp NSNN.
Đồng thời, phải phù hợp với nhu cau phát triển chung của XH, hạn chế tối đa sự chênh lệch về KT-XH giữa các vùng miền. Xuất phát từ thực tiễn, mỗi vùng miền khác nhau trong một quốc gia có những đặc điểm tự nhiên, trình độ phát triển KT-XH khác nhau. Nếu phân cấp NSNN được áp dụng như nhau sẽ dẫn tới sự chênh lệch, không bình đăng về khoảng cách phát triển giữa các đô thị. Thu NSNN cấp quận 2.
Khai niệm Theo Luật 83/2015/QH13 về Ngân sách Nhà nước: “NSĐP là các khoản thu NSNN phân cấp cho cấp địa phương hưởng, thu bổ sung từ NSTW cho NSĐP và các khoản chỉ NSNN thuộc nhiệm vụ chi của cấp địa phương.” 16 Quận là một cấp NS nằm trong NSDP và là một cấp NS hoàn thiện cua NSNN. UBND cấp quận là đơn vị chỉ đạo NSNN cấp quận. NS quận là một bộ phận, luôn gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của NSNN. “Thu NSNN cấp quận là toàn bộ các khoản thu mà chính quyền địa phương quận huy động vào quỹ ngân sách trong một thời kỳ dé đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
Nó chỉ bao gồm các khoản, mà chính quyền địa phương huy động vào ngân sách, không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả cho đối tượng nộp.