CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÚC LỢI BỔ SUNG TRONG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam 1. Khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế ở nhiều Quốc gia trên thế giới, trong đó có cả Việt Nam. Chính phủ chú trọng tập trung vào công tác hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ như các chính sách đầu tư tiềm năng trong nước, tham gia hợp tác với các nước, đặc biệt là ký các Hiệp định thương mại tự do.
Thực tế, chúng ta chưa có một khái niệm rõ ràng chính xác về doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ phụ thuộc vào các tiêu chí, góc độ kinh tế xã hội, điều kiện phát triển ở mỗi khu vực, đất nước khác nhau trên thế giới. Trong từ điển nước Việt Nam có đề cập về khái niệm và các loại doanh nghiệp vừa và nhỏ, có thể tham khảo khái niệm sau: “Doanh nghiệp vừa và nhỏ là doanh nghiệp có quy mô vốn, lao động và doanh thu nhỏ, bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa. Với phân bổ số lượng người lao động của doanh nghiệp siêu nhỏ dưới 10, của doanh nghiệp nhỏ đến tối đa 50 và của doanh nghiệp vừa với số lượng lên đến 200”.
Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ còn được ứng dụng thông qua vốn, lao động và doanh thu. Ví dụ, nước Việt Nam dựa vào vốn và lao động để quy định doanh nghiệp vừa và nhỏ của doanh nghiệp. Thông thường, doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta có vốn dưới 5 tỷ Việt Nam đồng và có số lao động dưới 200 người/năm, áp dụng tùy vào điều kiện kinh tế xã hội. Như theo quy định ban hành ở đất nước Nhật Bản, trong ngành công nghiệp thì doanh nghiệp sử dụng dưới mức tiền quy định 100 triệu Yên thì xếp vào doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ.
9 Như ở Đài Loan đánh vào doanh thu của doanh nghiệp quy định trong ngành công nghiệp. Doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa ở thì doanh thu không vượt quá 1,5 triệu Đô la Mỹ, vốn không được vượt quá 120 triệu Nhân dân tệ. Theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 90/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”. Vì vậy, việc xác định một DN thuộc quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được giải thích rõ hơn qua các khái niệm trên.
Đến năm 2009, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ mới được ban hành về phân chia doanh nghiệp vừa và nhỏ thành ba loại đó là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, xác định quy mô của doanh nghiệp thông qua tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định hoặc số lao động bình quân hàng năm. Do vậy, quy định của Nghị định mới này đã cụ thể rõ ràng hơn về phân loại doanh nghiệp theo quy mô. Đến năm 2017, để nhấn mạnh hơn nữa việc chi trả BHXH trong doanh nghiệp vừa và nhỏ, tại Điều 4 Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy định tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí: Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng”. BHXH là một loại phúc lợi bổ sung bắt buộc.
Đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ Theo Luật hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp vừa và nhỏ có một số đặc điểm dưới đây: (1) Doanh nghiệp vừa và nhỏ là doanh nghiệp tổ chức sản xuất kinh doanh có tên riêng, có trụ sở chính, thành lập doanh nghiệp hoạt động các ngành nghề theo quy định của Pháp luật, với các loại hình mà Luật doanh nghiệp quy định, kinh doanh đa dạng, số vốn đầu tư của nhiều thành phần cá nhân hay tổ chức, chủ yếu hướng đến 10 mục đích lợi nhuận. Mối quan hệ giữa bên doanh nghiệp vừa và nhỏ với các doanh nghiệp lớn bình đẳng theo quy định pháp luật. (2) Doanh nghiệp vừa và nhỏ là doanh nghiệp bé, số vốn ít ỏi, số lao động không nhiều, bình quân mức doanh thu thấp, trình độ, chất lượng đào tạo quản lý người lao động còn kém hơn so với các doanh nghiệp trong khu vực. Do đặc thù hoạt động kinh doanh khác nhau nên sẽ có các tiêu chí đánh giá doanh nghiệp khác nhau tùy thuộc vào loại ngành nghề mà doanh nghiệp đó đang sản xuất kinh doanh.
Chẳng hạn, trong lĩnh vực dịch vụ khách hàng, doanh nghiệp nhỏ lại có người lao động đóng BHXH thấp hơn 50 người/năm, doanh thu không vượt quá 100 tỷ Việt Nam đồng/năm hay nguồn vốn không quá 50 tỷ Việt Nam đồng. ở nước ta trong lĩnh vực nông-công-lâm nghiệp có số người lao động đóng BHXH thấp hơn 100 người/năm và giới hạn doanh thu ít hơn 50 tỷ Việt Nam đồng/năm và nguồn vốn sẽ không quá 20 tỷ Việt Nam đồng. (3) Điểm mạnh doanh nghiệp vừa và nhỏ là nguồn vốn không nhiều, mô hình doanh nghiệp ít phức tạp, thành lập doanh nghiệp dễ, không gặp khó khăn trong việc thay đổi phương hướng, không ngừng đầu tư vào các lĩnh vực mới, không e dè rủi ro thách thức. Tuy nhiên, doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp không ít vấn đề khó khăn bất lợi như nguồn vốn không cao, chi phí đào tạo còn kém và ít ỏi nên không thể đọ lại với các doanh nghiệp lớn hơn, khó thu hút được người lao động cho doanh nghiệp.
Ngoài ra, còn gặp khó khăn việc mở rộng quy mô, tiếp cận công nghệ mới và phát triển chất lượng đào tạo. Khái niệm phúc lợi bổ sung Theo Heneman & Schwab (1985), phúc lợi cho thấy được chi trả gián tiếp, gồm chi trả cho thời gian nghỉ làm như lương hưu, bảo hiểm và các dịch vụ phúc lợi vật chất và sức khỏe do tổ chức chi trả cho NLĐ. Theo Từ điển Tiếng Việt, phúc lợi là quyền lợi thụ hưởng mà NLĐ không cần chi trả hoặc trả một phần. 11 Theo Trần Kim Dung (2014), phúc lợi cho thấy sự quan tâm của DN đối với đời sống của NLĐ, có tác dụng kích thích nhân viên trung thành và gắn bó lâu dài với DN.
Tổ chức Trách nhiệm Xã hội Quốc tế đã đưa ra các quy chuẩn về trách nhiệm đối với xã hội, phát triển và giám sát để cải thiện điều kiện làm việc của NLĐ trong DN, trang trại hoặc văn phòng. DN phải bảo đảm rằng tiền lương và quyền lợi của NLĐ phải rõ ràng chi tiết và được cung cấp bằng phiếu trong mỗi kỳ trả lương. NSDLĐ phải bảo đảm tiền lương và quyền lợi được trả đầy đủ theo quy định của luật pháp hiện hành và tiền thù lao sẽ được trả bằng séc, hay tiền mặt tùy theo phù hợp với NLĐ. Tuy vậy, nó chưa đưa giải đáp được vấn đề cung cấp phúc lợi cho NLĐ, chỉ quy định một số yêu cầu nhất định chẳng hạn như về giờ làm, mức lương ít nhất, không phân chia giai cấp hay sự phân biệt đối xử.
Các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013 đều hiến định những nội dung liên quan đến phúc lợi bổ sung. Khoản 2 Điều 59 Hiến pháp năm 2013 hiến định “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an xinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác”. Theo tác giả Nguyễn Văn Toản (2001), hiện nay có hai quan điểm khác nhau về phúc lợi bổ sung: Quan điểm thứ nhất cho rằng chỉ những chính sách phúc lợi của nhà nước và do nhà nước tổ chức thực hiện; Quan điểm thứ hai cho rằng phúc lợi bổ sung cũng có thể do các chủ thể ngoài nhà nước thực hiện. Dựa vào khái niệm: “Phúc lợi bổ sung là phần thù lao gián tiếp được chi trả dưới dạng các hỗ trợ cuộc sống cho NLĐ” mà các tác giả đưa ra được hai loại phúc lợi bổ sung cho NLĐ trong DN như sau: Phúc lợi bắt buộc và phúc lợi không bắt buộc.
Nhà nước hay DN sẽ bảo đảm cho NLĐ được hưởng gồm: Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm mất khả năng lao động, bảo hiểm nhân thọ, bảo đảm thu nhập, phụ cấp ăn trưa, hỗ trợ chi phí đi lại, tiền nhà ở, hỗ trợ kinh tế của DN, hỗ trợ kiến thức, các chương trình thể thao văn hóa, dịch vụ giải trí, chăm sóc sức khỏe y tế. 12 Để hỗ trợ cuộc sống và kích thích NLĐ tăng năng suất đồng thời gắn bó với DN và nơi sinh sống, DN chi trả cho NLĐ phần thù lao gián tiếp cùng những phần phúc lợi thêm để NLĐ thụ hưởng gọi là phúc lợi bổ sung. Môi trường tác động tới phúc lợi bổ sung Các tác giả trong và ngoài nước đã nói về hệ thống phúc lợi bổ sung của NLĐ trong DN như dưới đây: Theo McKnight và cộng sự (2009), điều kiện về môi trường làm việc và tính chất công việc có ảnh hưởng không tốt đến NLĐ trong công việc của họ. Sự động viên, an ủi từ cấp trên, đồng nghiệp, chế độ phúc lợi, lương thưởng tốt sẽ giúp NLĐ giảm được sự căng thẳng, tinh thần thoải mái, an tâm khi làm việc, giúp tạo ra năng suất cao hơn.
Theo Bùi Quang Hưng, Nguyễn Thanh Bé, 2020 - Barzoki và cộng sự (2012), chính sách tuyển dụng, tính chất công việc, chính sách lao động, lương thưởng, thành tích đã ảnh hưởng đến phúc lợi bổ sung. Điều này cho thấy phúc lợi bổ sung có vai trò vô cùng quan trọng trong việc xác định động lực làm việc và ảnh hưởng đến động lực làm việc của NLĐ. Theo Hồ Tiến Dũng, Nguyễn Thanh Tuấn (2020), cơ hội làm việc, nơi làm việc, lương, các chế độ phúc lợi, sự giúp đỡ từ cấp, từ người đồng nghiệp, các cam kết đảm bảo của DN đều là các yếu tố có tác động đến sự thỏa mãn công việc. Theo tác giả Artz (2008), xác định sự thỏa mãn về công việc của NLĐ dựa trên chính sách Phúc lợi.