MỞ ĐẦU Thị xã Sơn Tây là thị xã trực thuộc Thủ đô Hà Nội. Trong những năm gần đây, đi đôi tốc độ đô thị hoá và mức độ phát triển kinh tế nhanh là sự gia tăng về khối lƣợng CTR, tại thị xã Sơn Tây, mỗi ngày có khoảng 80 tấn chất thải rắn các loại thải ra môi trƣờng, trong đó chất thải rắn sinh hoạt chiếm 70%, số còn lại là chất thải rắn y tế, công nghiệp và xây dựng. Mặc dù đã có những đơn vị tổ chức thu gom nhƣng lại không đồng bộ trong việc quản lý dẫn đến nhiều vấn đề bất cập làm giảm hiệu quả thu gom và gây ảnh hƣởng đến môi trƣờng và sức khỏe cộng đồng. Mặt khác, với một lƣợng chất thải rắn khá lớn nhƣ trên và có xu hƣớng ngày càng gia tăng cùng với tốc độ phát triển, nếu không có một giải pháp phối hợp đồng bộ, thu gom không hợp lý thì CTR sẽ có các tác động xấu nhƣ : gây cản trở giao thông, mất mĩ quan đô thị, gây ô nhiễm môi trƣờng.
Thị xã Sơn Tây có dân số khá đông 150576 ngƣời, khối lƣợng CTR sinh hoạt lớn (34860,58 tấn/năm vào năm 2018) lƣợng rác ngày càng tăng lên do quá trình đô thị hóa. Hệ thống thu gom chất thải rắn hiện nay đƣợc thực hiện bởi lực lƣợng thu gom chất thải rắn dân lập và công lập, chính vì thế mà chất thải rắn chƣa đƣợc quản lý tốt. Hệ thống thu gom CTR của thị xã còn gặp một số bất cập nhƣ việc chƣa phân loại đƣợc rác thải tại đầu nguồn , thời gian thu gom, vận chuyển vẫn còn chƣa hợp lý, phƣơng tiện thu gom tại các khu vực ngoại thị còn thô sơ, không đảm bảo nhu cầu thu gom CTR trên địa bàn thị xã, chỉ có khoảng 80 – 85% tổng số lƣợng CTR đƣợc thu gom và số còn lại đƣợc thải xuống kênh, rạch gây ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng. Công nghệ tái chế, tái sử dụng nhằm hạn chế chôn lấp, giảm thiều ô nhiễm môi trƣờng chƣa đƣợc áp dụng rộng rãi, chỉ diễn ra tự phát.
Nhận thấy mức độ cấp thiết và tầm quan trọng của vấn đề, em đã lựa chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp: “ Thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.” Nhằm có những cái nhìn về thực trạng quản lý chất thải rắn của thị xã, đồng thời đƣa ra giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về chất thải rắn sinh hoạt 1. Một số khái niệm về chất thải rắn sinh hoạt Theo khoản 12, điều 3 của Luật Bảo vệ môi trƣờng năm 2014: “Chất thải là vật chất đƣợc thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác.” [10] Về chất thải rắn, theo cách hiểu chung nhất là tất cả các chất thải phát sinh do các hoạt động của con ngƣời và động vật tồn tại ở dạng rắn, đƣợc thải bỏ khi không còn hữu dụng hay khi không muốn dùng nữa.
Nghị định số 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu quy định: “Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác” [4]. Chất thải rắn phát thải trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng đƣợc gọi chung là chất thải rắn sinh hoạt. Chất thải rắn phát thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp, làng nghề, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác đƣợc gọi chung là chất thải rắn công nghiệp. Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thƣờng ngày của con ngƣời [4].
Nhƣ vậy có thể hiểu: “Chất thải rắn sinh hoạt là chất thải ở dạng rắn hoặc sệt và không tan trong nước, được thải ra từ quá trình sản xuất kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác của con người”. “Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tƣ xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lƣu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời.[3] Thu gom chất thải thải rắn là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lƣu giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền chấp thuận.[3] Vận chuyển chất thải rắn là quá trình chuyên chở chất thải rắn từ nơi phát sinh, thu gom, lƣu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng. [3] Xử lỷ chất thải rắn là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ, tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích trong chất thải rắn, thu hồi, tái chế, tái sử dụng các thành phần có ích trong chất thải rắn. Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau, có thể ở nơi này hay ở nơi khác; chúng khác nhau về số lƣợng, kích thƣớc, phân bố về không gian.
Việc phân loại các nguồn phát sinh chất thải rắn đóng vai trò quan trọng trong công tác thu gom và vận chuyển. Các nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt gồm: Cơ quan, công sở Hoạt động Các quá trính xử thƣơng mại lý nƣớc thải Chất tải rắn sinh hoạt Khu dân cƣ Dịch vụ công cộng Sơ đồ 1. Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt [9] Khu dân cư: Bao gồm các khu dân cƣ tập trung, những hộ dân cƣ tách rời. Nguồn rác thải chủ yếu là thực phẩm dƣ thừa, thuỷ tinh, gỗ, nhựa, cao su và một số chất thải nguy hại.
Hoạt động thương mại: Quầy hàng, nhà hàng, chợ, văn phòng cơ quan, khách sạn. Các nguồn thải có thành phần tƣơng tự nhƣ đối với các khu dân cƣ (thực phẩm, giấy, catton. Cơ quan, công sở: Trƣờng học, bệnh viện, các cơ quan hành chính: lƣợng rác thải tƣơng tự nhƣ đối với rác thải dân cƣ và các hoạt động thƣơng mại nhƣng khối lƣợng ít hơn. Dịch vụ công cộng của các đô thị: Vệ sinh đƣờng xá, phát quan, chỉnh tu các công viên, bãi biển và các hoạt động khác.
Rác thải bao gồm cỏ rác, rác thải từ việc trang trí đƣờng phố. Các quá trình xử lý nước thải: Từ quá trình xử lý nƣớc thải, nƣớc rác, các quá trình xử lý trong công nghiệp. Nguồn thải là bùn, làm phân compost. Phân loại chất thải rắn sinh hoạt [18] Theo nguồn gốc: - Chất thải rắn sinh hoạt là những chất thải phát sinh hằng ngày từ các hộ gia đình, khu chợ, đô thị, cơ quan, trƣờng học, các khu thƣơng mại, khu dân cƣ, khu dịch vụ công cộng.
3 - Chất thải xây dựng là các phế thải do các hoạt động xây dựng tạo ra. - Chất thải công nghiệp phát sinh từ quá trình sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. - Chất thải nông nghiệp phát sinh do các hoạt động nông nghiệp nhƣ trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản trƣớc và sau thu hoạch. Theo tính chất của chất thải: - CTR hữu cơ: Là chất thải có khả năng tự phân hủy trong môi trƣờng tự nhiên sau một thời gian ngắn.
Ví dụ : cuống rau, mẩu thịt, thức ăn thừa. - CTR vô cơ: Là chất thải có khả năng tồn lƣu trong môi trƣờng rất lâu. Ví dụ : thủy tinh, sành sứ, kim loại. Theo khả năng tái chế, thu hồi: - CTR có khả năng tái chế : bìa catton, chất dẻo, vải vụn, thủy tinh, kim loại, giấy.
- CTR không thể tái chế: kim tiêm, chất thải y tế nguy hại. Theo mức đô nguy hai: - CTR nguy hại là các chất thải dễ gây phản ứng, dễ cháy nổ, ăn mòn, chứa chất phóng xạ, kim loại nặng. - CTR thông thƣờng là các chất thải không chứa các chất và hợp chất có tính nguy hại. Tính chất của chất thải rắn sinh hoạt 1.
Tính chất lý học của chất thải rắn Việc lựa chọn và vận hành thiết bị, phân tích và thiết kế hệ thống xử lý, đánh giá khả năng thu hồi năng lƣợng… phụ thuộc rất nhiều vào tính chất vật lý của chất thải rắn. Những tính chất vật lý quan trọng của chất thải rắn sinh hoạt bao gồm: khối lƣợng riêng, độ ẩm, kích thƣớc phân loại và độ xốp. Trong đó, khối lƣợng riêng và độ ẩm là hai tính chất đƣợc quan tâm nhất trong công tác thu gom và vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt. Một là, khối lƣợng riêng: Khối lƣợng riêng của chất thải rắn đƣợc định nghĩa là trọng lƣợng của một đơn vị vật chất tính trên 1 đơn vị thể tích chất thải (kg/m3).
Bởi vì khối lƣợng riêng của chất thải rắn thay đổi tuỳ thuộc vào những trạng thái của chúng nhƣ: xốp, chứa trong các thùng chứa container, không nén, nén… nên khi báo cáo dữ liệu về khối lƣợng hay thể tích chất thải rắn, giá trị khối lƣợng riêng phải chú thích trạng thái (khối lƣợng riêng) của các mẫu rác một cách rõ ràng vì dữ liệu khối lƣợng riêng rất cần thiết đƣợc sử dụng để ƣớc lƣợng tổng khối lƣợng và thể tích rác cần phải quản lý. Khối lƣợng riêng các thành phần của chất thải rắn đô thị [5] Khối lƣợng riêng (lb/yd3)* Loại chất thải Dao động Trung bình Thực phẩm 220 - 810 490 Giấy 70 - 220 150 Carton 70 - 135 85 Plastic 70 - 220 110 Vải 70 - 170 110 Cao su 170 - 340 220 Da 170 - 440 270 Rác làm vƣờn 100 - 380 170 Gỗ 220 - 540 400 Thủy tinh 270 - 810 330 Can thiết (đồ hộp) 85 - 270 150 Nhôm 110 - 405 270 Kim loại khác 220 - 1940 540 Bụi, tro… 540 - 1685 810 Tro 1095 - 1400 1255 Rác rƣởi 150 - 305 220 ( Nguồn: Cù Huy Đấu, Trần Thị Hường (2010). Quản lý chất thải rắn đô thị. Nhà xuất bản Xây dựng, Hà Nội.) Chú thích: *1 lb/yd3 = 593 kg/m3 Khối lƣợng riêng thay đổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ: vị trí địa lý, mùa trong năm, thời gian lƣu giữ chất thải.
Do đó cần phải thận trọng khi lựa chọn giá trị thiết kế. Khối lƣợng riêng của chất thải đô thị dao động trong khoảng 180 - 400 kg/m3, điển hình khoảng 300 kg/m3 [4].