Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Tình trạng kháng kháng sinh đang là vấn đề y tế công cộng nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu, đe dọa trực tiếp đến hiệu quả điều trị các bệnh nhiễm khuẩn và làm gia tăng gánh nặng kinh tế, tỷ lệ tử vong. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), ước tính có khoảng 1/3 trong tổng số 50 triệu đơn thuốc kháng sinh hằng năm là không cần thiết. Tại Việt Nam, kháng sinh chiếm 30% đến 40% tổng số tiền thuốc nhập khẩu và sản xuất trong nước. Điều tra Y tế Quốc gia ghi nhận 73% trường hợp tự ý mua thuốc điều trị mà không qua khám bệnh. Khảo sát tại các tỉnh phía Bắc cho thấy 88% kháng sinh tại thành thị và 91% tại nông thôn được bán mà không có đơn thuốc.

Xã Hồng Hà, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội là một xã thuần nông ven sông Hồng với dân số 13.081 người (3.203 hộ gia đình vào năm 2017). Ngành nghề chính của người dân là làm đậu phụ, nấu rượu, nuôi lợn và kinh doanh vật liệu xây dựng cát sỏi. Việc thường xuyên tiếp xúc với khói bếp than khiến tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp ở mức cao (năm 2017 có 450/2.690 lượt khám tại trạm y tế liên quan đến hô hấp). Toàn xã có 11 hiệu thuốc tư nhân, 3 phòng khám tư và 3 phòng khám nha khoa, trong khi cách bệnh viện huyện 7 km. Thói quen tự mua thuốc kháng sinh điều trị tại nhà phổ biến, từng dẫn đến hậu quả nghiêm trọng như trường hợp tử vong của trẻ 8 tuổi năm 2017 do tự điều trị viêm phổi tại nhà kéo dài.

Đề tài được xây dựng nhằm giải quyết 2 câu hỏi nghiên cứu chính:

  1. Thực trạng tự sử dụng thuốc kháng sinh của người dân xã Hồng Hà, huyện Đan Phượng, Hà Nội năm 2018 diễn ra như thế nào?
  2. Những yếu tố nào liên quan đến hành vi tự sử dụng thuốc kháng sinh của người dân tại địa bàn nghiên cứu?

Nghiên cứu xác định 2 mục tiêu cụ thể:

  1. Mô tả thực trạng tự sử dụng thuốc kháng sinh của người dân xã Hồng Hà, huyện Đan Phượng, Hà Nội năm 2018.
  2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến hành vi tự sử dụng thuốc kháng sinh của người dân xã Hồng Hà, huyện Đan Phượng, Hà Nội năm 2018.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu định lượng: Người quyết định việc sử dụng thuốc chữa bệnh cho các thành viên trong gia đình tại xã Hồng Hà (vợ, chồng hoặc người trực tiếp chăm sóc sức khỏe/mua thuốc).
  • Đối tượng nghiên cứu định tính: Người dân trong xã (6 người), người bán thuốc tại cơ sở tư nhân hợp pháp (2 người) và cán bộ y tế trạm y tế xã (1 người).
  • Tiêu chuẩn lựa chọn: Người trực tiếp mua thuốc hoặc quyết định dùng thuốc; bản thân hoặc thành viên gia đình có biểu hiện ốm trong vòng 1 tháng trước thời điểm điều tra.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Người từ chối tham gia, người gặp sự cố đột xuất hoặc không đủ sức khỏe/khả năng trả lời phỏng vấn.
  • Phạm vi không gian: Xã Hồng Hà, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Từ tháng 03/2018 đến tháng 12/2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và căn cứ pháp lý

Đề tài dựa trên khung lý thuyết tổng hợp từ 4 nhóm yếu tố tác động đến hành vi tự sử dụng kháng sinh trong cộng đồng:

  1. Yếu tố cá nhân: Tuổi, giới tính, học vấn, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế, tình trạng bảo hiểm y tế, kiến thức, thái độ và niềm tin về thuốc kháng sinh.
  2. Yếu tố cung cấp dịch vụ y tế: Khoảng cách địa lý tới cơ sở y tế, giá thành dịch vụ, thủ tục hành chính và tư vấn từ cán bộ y tế.
  3. Yếu tố cơ sở kinh doanh dược: Mức độ sẵn có của các hiệu thuốc tư nhân, giá thuốc rẻ, thực hành bán thuốc không đơn và tư vấn của người bán thuốc.
  4. Yếu tố môi trường - xã hội: Truyền thông đại chúng, công tác thanh tra/chế tài pháp luật và thói quen/tập quán của cộng đồng.

Về mặt pháp lý, nghiên cứu căn cứ vào:

  • Luật Dược năm 2016: Quy định nghiêm cấm bán lẻ thuốc kê đơn không có đơn thuốc.
  • Quyết định số 05/2016/QĐ-BYT: Quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú, yêu cầu cơ sở bán lẻ lưu đơn thuốc kháng sinh 01 năm.
  • Quyết định số 11/2007/QĐ-BYT: Quy định về Thực hành tốt nhà thuốc (GPP).
  • Công văn số 1517/BYT-KCB (2008): Quy định kháng sinh thuộc danh mục thuốc phải kê đơn và bán theo đơn.

Thiết kế và phương pháp nghiên cứu

Đề tài áp dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, phối hợp phương pháp định lượng và định tính (mixed-methods).

           Chọn mẫu ngẫu nhiên                              Chọn mẫu chủ đích:
               hệ thống                                     - 6 người dân (3 nam, 3 nữ)
         (khoảng cách mẫu k = 34)                           - 2 người bán thuốc
             trực tiếp                                      Phỏng vấn sâu ghi âm
         Xử lý: SPSS 16 / SPSS 18                          Gỡ băng verbatim & phân tích
         (Tần số, %, OR, Chi-square)                       chủ đề (Thematic analysis)
  • Cỡ mẫu định lượng: Tính theo công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể: $$n = Z^2_{1-\alpha/2} \frac{p(1-p)}{d^2}$$ Trong đó: $Z_{1-\alpha/2} = 1,96$ (độ tin cậy 95%), $d = 0,1$ (độ chính xác mong muốn), tỷ lệ $p = 0,668$ (tham khảo từ nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh năm 2011 tại xã La Phù, Hoài Đức, Hà Nội). Cỡ mẫu tính toán lý thuyết là $n = 85$. Để bù trừ sai số và giảm thiểu tỷ lệ từ chối, tác giả tăng thêm 10%, xác định cỡ mẫu chính thức là $n = 94$ hộ gia đình.
  • Phương pháp chọn mẫu định lượng: Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống từ danh sách 3.203 hộ gia đình phân bố tại 9 cụm dân cư. Khoảng cách chọn mẫu $k = 3203 / 94 \approx 34$. Hộ đầu tiên ($i$) được chọn ngẫu nhiên bằng lệnh RANDBETWEEN(1, 9) trong Microsoft Excel; các hộ tiếp theo được xác định lần lượt theo công thức $i + k, i + 2k, \dots$ Trường hợp hộ từ chối sẽ chọn hộ kế cận liền kề ("nhà liền nhà").
  • Thu thập và phân tích dữ liệu:
    • Định lượng: Sử dụng bộ câu hỏi cấu trúc gồm 2 phần (thông tin nhân khẩu học và thực trạng sử dụng kháng sinh). Số liệu được nhập bằng phần mềm EpiData 3.1 và phân tích bằng SPSS (sử dụng thống kê mô tả, kiểm định Chi-square, Fisher's exact test, Odd Ratio - OR với khoảng tin cậy 95% CI).
    • Định tính: Sử dụng hướng dẫn phỏng vấn sâu cá nhân (20–30 phút/cuộc), ghi âm toàn bộ, gỡ băng nguyên văn và phân tích theo khung chủ đề không dùng phần mềm.
  • Đạo đức nghiên cứu: Đề tài được Hội đồng Đạo đức Trường Đại học Y tế Công cộng phê duyệt, có sự chấp thuận của UBND xã Hồng Hà; người tham gia ký văn bản đồng ý tự nguyện; dữ liệu được mã hóa và bảo mật tuyệt đối.
  • Kiểm soát sai số: Hạn chế sai số nhớ lại bằng cách giới hạn thời gian mắc bệnh trong vòng 1 tháng gần nhất; tập huấn điều tra viên; thử nghiệm bộ công cụ trên 10 đối tượng trước khi triển khai chính thức; kiểm tra ngẫu nhiên 10% số phiếu nhập liệu.

Nội dung chính theo từng chương

Đặt vấn đề và Mục tiêu nghiên cứu

Phần mở đầu xác định tính cấp bách của tình trạng lạm dụng thuốc kháng sinh tại các vùng nông thôn ngoại thành Hà Nội. Tác giả chỉ ra mối liên hệ trực tiếp giữa thói quen tự điều trị, việc buôn bán kháng sinh không đơn tại các quầy thuốc tư nhân và gánh nặng bệnh tật đường hô hấp do đặc thù nghề nghiệp đun nấu than tổ ong tại địa phương. Mục tiêu nghiên cứu được lượng hóa rõ ràng thành hai nhiệm vụ: mô tả thực trạng và phân tích các yếu tố liên quan.

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Tác giả hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong nước và quốc tế theo 4 nội dung trọng tâm:

  1. Khái quát về thuốc kháng sinh: Lịch sử phát triển từ phát minh Penicillin của Alexander Fleming (1928), sản xuất tại Oxford (1941) đến sự ra đời của các nhóm bán tổng hợp. Phân loại kháng sinh theo cơ chế tác dụng (ức chế tổng hợp vách tế bào, ức chế chức năng màng tế bào, ức chế tổng hợp protein, ức chế tổng hợp acid nucleic) và cấu trúc hóa học (11 nhóm chính: Beta-lactam, Aminoglycosid, Phenicol, Lincosamid, Macrolid, Tetracyclin, kháng sinh chống nấm, Quinolon, Sulfamid, Glycopeptid, nhóm mới như Oxazolidinone). Nguyên tắc sử dụng an toàn, hợp lý theo khuyến cáo của Bộ Y tế và Tuyên bố Nairobi (1985).
  2. Tình hình sử dụng và kháng thuốc trên thế giới: Dẫn chứng các nghiên cứu tại Hy Lạp (Skliros, 2010: 44,6% tự sử dụng không đơn, 72,6% mua từ nhà thuốc tư nhân), Jordan (Al-Azzam, 2007: 39,5% không đơn), Ả Rập Saudi (34% không đơn, 45,1% dùng Amoxicillin/Acid Clavulanic), Mông Cổ (42,3% trẻ dưới 5 tuổi dùng không đơn). Dữ liệu mạng lưới ANSORP và KONSAR cho thấy tỷ lệ S. pneumoniae kháng Penicillin tại Việt Nam (71,4%) và kháng Erythromycin (92,1%) thuộc hàng cao nhất châu Á.
  3. Tình hình tại Việt Nam:
    • Trong cộng đồng: Nghiên cứu tại Ba Vì (2010) ghi nhận 58% trẻ đã dùng kháng sinh trong 3 tuần trước đó, 95% chủng phân lập kháng ít nhất 1 loại kháng sinh. Nghiên cứu tại La Phù (Nguyễn Thị Thanh, 2011) chỉ ra tỷ lệ tự sử dụng kháng sinh là 66,8%. Nghiên cứu tại Tiên Du (Nguyễn Văn Huy, 2003) cho thấy hơn 80% người đi mua thuốc là phụ nữ.
    • Trong bệnh viện: Báo cáo tại 15 bệnh viện (2008–2009) ghi nhận 30–70% vi khuẩn Gram âm kháng Cephalosporin thế hệ 3, 4; mức tiêu thụ kháng sinh đạt 274,7 DDD/100 giường/ngày (so với Hà Lan là 58,1).
  4. Tổng quan địa bàn nghiên cứu: Điều kiện tự nhiên bãi bồi ven sông Hồng của xã Hồng Hà, đặc điểm nghề nghiệp nấu rượu, làm đậu phụ, cơ cấu cơ sở y tế tư nhân và mô hình bệnh tật hô hấp.

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương này mô tả chi tiết phương pháp tiếp cận thực địa:

  • Xây dựng hệ thống biến số nghiên cứu hoàn chỉnh gồm nhóm biến thông tin chung (tuổi, giới, học vấn, nghề nghiệp, BHYT, kinh tế gia đình) và nhóm biến thực trạng/thực hành (triệu chứng bệnh, cơ sở khám, địa điểm mua thuốc, yêu cầu đơn thuốc của người bán, tuân thủ liều lượng/thời gian, xử trí quên thuốc/tác dụng phụ, rào cản tiếp cận y tế, tiếp cận thông tin truyền thông).
  • Quy trình chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống từ danh sách 3.203 hộ gia đình theo từng bước cụ thể.
  • Xây dựng bộ công cụ gồm bảng hỏi cấu trúc định lượng và 3 khung hướng dẫn phỏng vấn sâu cho 3 nhóm đối tượng: người dân, người bán thuốc, cán bộ y tế trạm.

Chương 3: Dự kiến kết quả, bàn luận và khuyến nghị

Chương này trình bày hệ thống biểu mẫu phân tích kết quả dự kiến:

  • Khung phân tích thực trạng sử dụng kháng sinh: Tỷ lệ tự mua không đơn, lý do không đi khám (do bệnh nhẹ, theo kinh nghiệm cũ, tiết kiệm chi phí, tin tưởng người bán), nguồn cung cấp thuốc, hành vi tự ngừng thuốc khi triệu chứng thuyên giảm, hành vi chia sẻ đơn thuốc.
  • Khung phân tích mối liên quan giữa hành vi tự dùng thuốc không đơn với các yếu tố nhân khẩu học xã hội (tuổi, giới tính, học vấn, nghề nghiệp, tình trạng bảo hiểm, mức thu nhập) qua bảng 2x2, tính toán chỉ số OR và giá trị $p$.
  • Bàn luận dự kiến phân tích sâu 2 nhóm yếu tố: yếu tố chủ quan từ cá nhân (thiếu hiểu biết, thói quen tự ý điều trị) và yếu tố khách quan từ môi trường (quản lý bán lẻ thuốc còn lỏng lẻo, dịch vụ y tế tuyến trên quá tải, chi phí y tế tự chi trả cao).

Bảng tổng hợp hệ thống biến số và khung đo lường của đề tài

Nhóm biến số Tên biến số Định nghĩa và phân loại biến Phương pháp thu thập
Thông tin nhân khẩu - xã hội Tuổi, Giới tính Số năm dương lịch (liên tục); Nam/Nữ (nhị phân) Phỏng vấn bộ câu hỏi định lượng
Trình độ học vấn Bậc học cao nhất: Mù chữ, Tiểu học, THCS, THPT, ĐH/CĐ (thứ bậc) Phỏng vấn bộ câu hỏi định lượng
Nghề nghiệp hiện tại Nghề tạo thu nhập chính: Làm ruộng, thợ thủ công/buôn bán, công chức, khác (danh mục) Phỏng vấn bộ câu hỏi định lượng
Bảo hiểm y tế Có / Không tham gia BHYT (nhị phân) Phỏng vấn bộ câu hỏi định lượng
Kinh tế gia đình Thu nhập: Thấp, Trung bình, Cao (thứ bậc) Phỏng vấn bộ câu hỏi định lượng
Thực trạng sử dụng thuốc Bị ốm trong 1 tháng qua Xuất hiện các triệu chứng làm mệt mỏi, khó chịu (nhị phân) Bộ câu hỏi định lượng
Sử dụng thuốc kháng sinh Có / Không dùng kháng sinh khi bị ốm (nhị phân) Bộ câu hỏi định lượng
Đơn thuốc của bác sĩ Có theo đơn / Không theo đơn của bác sĩ (nhị phân) Định lượng & Định tính
Nơi mua kháng sinh Quầy thuốc trạm, hiệu thuốc nhà nước, nhà thuốc tư nhân, nguồn khác (danh mục) Bộ câu hỏi định lượng
Yêu cầu đơn từ người bán Người bán có / không yêu cầu xuất trình đơn thuốc (nhị phân) Định lượng & Định tính
Hướng dẫn của người bán Người bán có / không hướng dẫn cách dùng thuốc (nhị phân) Định lượng & Định tính
Thực hành dùng kháng sinh Thời gian dùng thuốc Theo chỉ dẫn / Đỡ là dừng / Uống hết thuốc mua dù chưa khỏi (danh mục) Bộ câu hỏi định lượng
Tuân thủ giờ giấc Uống đúng giờ theo hướng dẫn: Có / Không (nhị phân) Bộ câu hỏi định lượng
Xử trí khi quên thuốc Uống ngay khi nhớ / Bỏ qua lần đó / Hỏi ý kiến bác sĩ (danh mục) Bộ câu hỏi định lượng
Xử trí tác dụng phụ Ngừng thuốc / Đi khám / Đổi thuốc khác / Giảm liều (danh mục) Bộ câu hỏi định lượng
Tự ý đổi liều lượng Có / Không tự ý tăng hoặc giảm liều (nhị phân) Bộ câu hỏi định lượng
Rào cản & Truyền thông Lý do không đi khám Bệnh nhẹ, kinh nghiệm cũ, tiết kiệm chi phí, tin người bán, ngại chờ đợi (danh mục) Định lượng & Định tính
Tiếp cận thông tin Đã từng nghe về nguyên tắc dùng kháng sinh qua truyền thông / Cán bộ y tế (nhị phân) Định lượng & Định tính

Kết quả và đóng góp của đề tài

Kết quả tổng hợp từ cơ sở dữ liệu và dự kiến đề tài

  • Thực trạng tại địa bàn: Tác giả chỉ ra bối cảnh đặc thù tại xã Hồng Hà với tỷ lệ lớn người dân tự chữa bệnh đường hô hấp bằng kháng sinh mua tại 11 quầy thuốc tư nhân trên địa bàn mà không qua thăm khám tại Trạm Y tế xã hoặc Bệnh viện Đan Phượng.
  • Hệ thống hóa nguyên nhân cốt lõi:
    • Nguyên nhân từ phía người dân: Nhận thức sai lệch (cho rằng kháng sinh trị được cảm lạnh, sốt, ho thông thường), tâm lý ngại thủ tục hành chính, chi phí khám chữa bệnh gián tiếp và thói quen tích trữ/dùng lại đơn thuốc cũ.
    • Nguyên nhân từ cơ sở bán lẻ: Áp lực lợi nhuận thương mại khiến các nhà thuốc tư nhân bỏ qua quy định bán thuốc theo đơn của Luật Dược; thiếu tư vấn dược lâm sàng đầy đủ.
    • Nguyên nhân quản lý: Thiếu chế tài xử phạt thực tế tại tuyến xã và chưa thiết lập hệ thống giám sát kháng thuốc cộng đồng định kỳ.

Đóng góp về mặt phương pháp và thực tiễn

  • Đóng góp phương pháp: Khắc phục hạn chế của các nghiên cứu mô tả thuần túy trước đây (vốn chỉ khảo sát KAP cắt ngang) bằng cách kết hợp nghiên cứu định tính phỏng vấn sâu đa chiều (người dân, người bán lẻ, nhân viên y tế công). Cách tiếp cận này giúp giải thích sâu căn nguyên tâm lý - xã hội của hành vi tự dùng thuốc.
  • Đóng góp thực tiễn: Cung cấp bộ công cụ thu thập số liệu chuẩn hóa cho cấp xã/phường và đưa ra bằng chứng thực địa phục vụ công tác lập kế hoạch truyền thông thay đổi hành vi (BCC) của Trung tâm Y tế huyện Đan Phượng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Hạn chế được xác định trong văn bản

  • Phạm vi không gian hẹp: Nghiên cứu chỉ tiến hành tại một xã (Hồng Hà), cỡ mẫu 94 hộ gia đình mang tính đại diện cục bộ cho địa phương, chưa thể suy rộng cho toàn bộ quần thể dân cư huyện Đan Phượng hoặc khu vực nông thôn Đồng bằng sông Hồng.
  • Nguồn lực nghiên cứu: Hạn chế về kinh phí và nhân lực của một tiểu luận cử nhân khiến nghiên cứu không thể thực hiện các xét nghiệm vi sinh (kháng sinh đồ) đi kèm để đánh giá chính xác mức độ kháng thuốc trên thực địa.
  • Sai số nhớ lại (Recall bias): Việc thu thập hành vi sử dụng thuốc phụ thuộc vào trí nhớ của đối tượng, mặc dù đã khu trú trong vòng 1 tháng gần nhất nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ sai lệch thông tin về tên thuốc và liều lượng.

Hướng phát triển tiếp theo

  • Mở rộng quy mô mẫu nghiên cứu trên nhiều xã có điều kiện kinh tế - làng nghề khác nhau để so sánh mô hình sử dụng kháng sinh.
  • Thiết kế các can thiệp thử nghiệm cộng đồng (community-based intervention trials) đánh giá hiệu quả của việc tập huấn cho người bán thuốc tư nhân kết hợp truyền thông nhóm nhỏ đối với người dân.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Y tế công cộng, Y học dự phòng, Dược học: Tham khảo quy trình thiết kế nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính, công thức tính cỡ mẫu một tỷ lệ và phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống từ danh sách hộ gia đình thực tế.
  • Cán bộ quản lý y tế cơ sở (Trạm Y tế xã, Trung tâm Y tế huyện): Ứng dụng khung biến số và bộ câu hỏi phỏng vấn sâu để khảo sát thực trạng tiêu thụ dược phẩm và đánh giá sự tuân thủ quy chế kê đơn tại các nhà thuốc trên địa bàn quản lý.
  • Người làm nghiên cứu về chính sách y tế và truyền thông giáo dục sức khỏe: Tham khảo khung phân tích các rào cản tài chính, địa lý và nhận thức ảnh hưởng đến quyết định tiếp cận dịch vụ y tế của người dân nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

1. Cỡ mẫu của nghiên cứu được tính toán dựa trên cơ sở nào?

Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng được tính theo công thức ước lượng một tỷ lệ trong nghiên cứu cắt ngang với độ tin cậy 95% ($Z = 1,96$) và sai số tuyệt đối $d = 0,1$. Tác giả sử dụng tỷ lệ tự sử dụng kháng sinh tham chiếu $p = 0,668$ từ nghiên cứu năm 2011 của Nguyễn Thị Thanh tại xã La Phù, Hoài Đức. Kết quả tính toán cho ra 85 hộ, sau đó cộng thêm 10% để dự phòng sai số và từ chối, chốt cỡ mẫu chính thức là 94 hộ gia đình.

2. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống được tiến hành cụ thể như thế nào?

Từ danh sách 3.203 hộ gia đình của xã Hồng Hà, tác giả xác định khoảng cách chọn mẫu $k = 3203 / 94 \approx 34$. Hộ gia đình đầu tiên được lựa chọn ngẫu nhiên bằng lệnh RANDBETWEEN(1, 9) trong phần mềm Excel. Các hộ tiếp theo được chọn tuần tự bằng cách cộng dồn khoảng cách mẫu $k$ ($i, i+34, i+68, \dots$). Nếu hộ được chọn không đồng ý tham gia, nghiên cứu viên sẽ thay thế bằng hộ kế cận theo nguyên tắc "nhà liền nhà".

3. Đối tượng tham gia nghiên cứu định tính bao gồm những ai?

Mẫu định tính gồm 9 đối tượng được lựa chọn chủ đích để phỏng vấn sâu: 6 người dân đại diện các hộ gia đình (3 nam và 3 nữ), 2 người bán thuốc tại các hiệu thuốc tư nhân có lượng khách đông nhất trên địa bàn xã, và 1 y bác sĩ phụ trách điều trị tại Trạm Y tế xã Hồng Hà.

4. Các văn bản quy phạm pháp luật nào được đề tài sử dụng làm căn cứ quản lý?

Đề tài trích dẫn và căn cứ vào: Luật Dược năm 2016 (nghiêm cấm bán lẻ thuốc kê đơn không có đơn); Quyết định số 05/2016/QĐ-BYT (Quy chế kê đơn thuốc ngoại trú, yêu cầu lưu đơn kháng sinh 1 năm); Quyết định số 11/2007/QĐ-BYT (Tiêu chuẩn Thực hành tốt nhà thuốc - GPP); và Công văn số 1517/BYT-KCB năm 2008 về danh mục thuốc phải kê đơn.

5. Những biện pháp cụ thể nào được tác giả áp dụng để hạn chế sai số nghiên cứu?

Để khắc phục sai số nhớ lại, tác giả giới hạn đối tượng nghiên cứu là người bị ốm hoặc có người thân bị ốm trong vòng 1 tháng gần nhất. Để hạn chế sai số thu thập, điều tra viên (sinh viên Đại học Y tế Công cộng) được tập huấn kỹ năng phỏng vấn; phiếu hỏi được phỏng vấn thử trên 10 đối tượng; quá trình thu thập được giám sát trực tiếp tại thực địa và kiểm tra ngẫu nhiên 10% số phiếu nhập liệu trên phần mềm.


Kết luận

Đề tài "Thực trạng tự sử dụng thuốc kháng sinh và một số yếu tố liên quan của người dân xã Hồng Hà, huyện Đan Phượng, Hà Nội năm 2018" của tác giả Nguyễn Thị Phương Anh là một công trình nghiên cứu y tế công cộng có phương pháp luận chặt chẽ. Bằng việc kết hợp thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang định lượng ($n = 94$) và nghiên cứu định tính phỏng vấn sâu ($n = 9$), đề tài đã phản ánh bức tranh thực tế về hành vi tự điều trị bằng kháng sinh tại một xã nông thôn ngoại thành có nguy cơ cao về bệnh hô hấp. Công trình cung cấp cơ sở dữ liệu thực địa có giá trị, đóng góp bằng chứng quan trọng cho các can thiệp truyền thông và công tác quản lý bán lẻ dược phẩm tại tuyến y tế cơ sở.