Chương 1 TỔNG QUAN 1. Khái niệm thừa cân, béo phì Theo Tổ chức Y tế Thế giới năm 2016, TCBP là tình trạng tích luỹ mỡ thái quá và không bình thường một cách cục bộ hay toàn thể tới mức ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ. Tình trạng TCBP xảy ra khi có sự mất cân bằng năng lượng (năng lượng cung cấp cao hơn năng lượng tiêu hao tạo nên một cân bằng dương tính và phần năng lượng dư thừa được chuyển thành mỡ tích trữ trong các tổ chức của cơ thể) trong một thời gian dài. Dịch tễ học thừa cân, béo phì 1.
Tình hình thế giới Trong những năm qua, tỉ lệ TCBP ở trẻ em đã gia tăng nhanh chóng, xu hướng dịch tễ của TCBP đang thay đổi trên toàn thế giới, đặc biệt cao ở các nước phát triển, song nó không chỉ phổ biến ở các nước phát triển mà còn gia tăng nhanh chóng ở cả các nước đang phát triển, kể cả những nước mà tình trạng suy dinh dưỡng vẫn còn phổ biến: Hơn 40% trẻ em Bắc Mỹ và Địa Trung Hải, 38% trẻ em Châu Âu, 27% trẻ em vùng Tây Thái Bình Dương và 22% trẻ em ở Châu Á bị TCBP. Tại các nước trong khu vực châu Á: Tỉ lệ TCBP tăng từ 13 triệu trẻ năm 1990 lên 18 triệu vào năm 2010, cao nhất trong 3 châu lục. Hiện nay, TCBP ở trẻ em đã trở thành vấn đề sức khoẻ ưu tiên thứ hai trong phòng chống bệnh tật ở các nước châu Á và được xem như là một trong những thách thức đối với ngành Dinh dưỡng và Y tế. Tình hình Việt Nam Ở nước ta, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, tỉ lệ TCBP ở trẻ em đang tăng nhanh trong cả nước và trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng.
Tỉ lệ và tốc độ gia tăng TCBP khác nhau giữa các vùng, đặc biệt là các thành phố lớn, thành phố trực thuộc Trung ương: Tổng điều tra toàn quốc năm 2010, tỉ lệ TCBP ở trẻ từ 5 – 19 tuổi tại khu vực Đồng bằng sông Hồng là 9,0%, Miền trung là 13,4%, Đông Nam Bộ là 23,3%; sau 6 năm (2002- 2008) tỉ lệ TCBP ở học sinh tiểu học TP.HCM đã tăng hơn 3 lần (9,4% và 28,5%), năm 2014 đã tăng lên là 41,4%; Hà Nội, Hải phòng cũng như các thành phố lớn khác tỉ lệ TCBP gia tăng nhanh ở tất cả các lứa tuổi, tỉ lệ trẻ bị TCBP ở học sinh tiểu học năm ở Hà nội là 41,7 % (năm 2017), 44,7% (năm 2018); ở Hải Phòng 10,4% (năm 2000), 31,3% (năm 2012), 50,4% (năm 2014). TCBP ở trẻ em không chỉ khác nhau giữa khu vực thành thị và nông thôn, mà còn khác nhau giữa nam và nữ, theo Tổng điều tra của Viện Dinh dưỡng năm 2010, tỉ lệ TCBP ở trẻ từ 5 – 19 tuổi là khác nhau giữa nam và nữ ở tất cả các nhóm tuổi. Tại Bắc Ninh, cho đến thời điểm chúng tôi nghiên cứu, chưa có tác giả nào công bố số liệu nghiên cứu về TCBP. Một số yếu tố liên quan và bệnh kèm theo thừa cân, béo phì 1.
Một số yếu tố liên quan thừa cân, béo phì 1. Khẩu phần và thói quen ăn uống TCBP không phải chỉ đơn thuần liên quan đến hàm lượng calo cao trong chế độ ăn của trẻ em, mà sự mất cân đối về thành phần các chất dinh dưỡng trong chế độ ăn cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến tình trạng TCBP. Đặc biệt, việc chuyển sang chế độ ăn giàu đường, ít chất xơ có thể có tác động mạnh đến sự gia tăng TCBP ở trẻ em và các bệnh liên quan. Khẩu phần giàu năng lượng vượt quá năng lượng tiêu hao tạo nên một cân bằng dương tính và phần dư thừa được chuyển thành mỡ tích trữ trong các tổ chức của cơ thể.
Thói quen ăn uống được coi là một trong những yếu tố tác động trực tiếp đến khẩu phần và ảnh hưởng tới tình trạng TCBP của trẻ. Trên thực tế có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới quá trình thu nhận thức ăn như điều kiện kinh tế của từng gia đình, thói quen ăn uống của trẻ, tập quán ăn uống của từng địa phương và đặc biệt là quan điểm nuôi dưỡng trẻ của ông/bà/bố/mẹ. Những thức ăn hấp thu nhanh, đặc biệt là ăn nhiều chất bột, uống nhiều nước ngọt, soda làm tăng nguy cơ TCBP ở trẻ em. Thói quen không ăn bữa sáng cũng là yếu tố nguy cơ gây tăng khối lượng mỡ nội tạng và tăng chỉ số BMI ở trẻ em.
Nghiên cứu của Trần Thị Xuân Ngọc cho thấy có mối liên quan giữa tình trạng TCBP với thói quen ăn uống (phàm ăn và hay ăn vặt). Hoạt động thể lực Hoạt động thể lực rất quan trọng trong suốt thời kỳ niên thiếu đến khi trưởng thành, bởi nó vừa có thể ngăn ngừa TCBP, vừa làm giảm nguy cơ mắc các bệnh mạn tính như tim mạch, bệnh tiểu đường tuýp 2. Hoạt động thể lực có thể làm giảm nguy cơ ung thư vú tới 40%, đặc biệt là tập thể dục đầy đủ trong độ tuổi sinh đẻ. Bên cạnh đó, hoạt động thể lực cũng có thể cải thiện sức khỏe tinh thần và hạnh phúc trong giới trẻ.
Lối sống tĩnh tại, ít hoạt động thể lực làm giảm tiêu hao năng lượng dẫn đến gia tăng TCBP, việc can thiệp để tăng cường hoạt động thể lực và giảm hành vi ít vận động là cần thiết giảm nguy cơ TCBP ở trẻ em. Môi trường, kinh tế - xã hội và gia đình Mức độ hoạt động thể lực của trẻ có thể phụ thuộc vào các điều kiện môi trường khuyến khích hoặc không khuyến khích hoạt động thể lực, chẳng hạn như cơ hội tiếp cận các cơ sở giải trí, môi trường có khuyến khích đi bộ không, môi trường có an toàn cho người đi tập thể dục không. Một số thay đổi về môi trường xã hội được xem là nguyên nhân gây ảnh hưởng đến giấc ngủ của trẻ em cũng liên quan đến TCBP như sử dụng máy tính, điện thoại, tivi vào ban đêm, đồng thời làm tăng căng thẳng và lo âu, những trẻ mà gia đình có đặt tivi hoặc máy tính trong phòng ngủ dẫn đến trẻ thường ngủ muộn hơn, thức dậy muộn hơn và thời gian của giấc ngủ ngắn hơn. Mối liên quan giữa tình trạng kinh tế - xã hội (SES) và TCBP đặc biệt quan trọng khi so sánh toàn cầu.
Theo một tổng kết gần đây từ 45 nghiên cứu được thực hiện từ năm 1989 – 2008 cho ra kết quả có 27% nghiên cứu thấy rằng không có mối liên quan giữa SES và BMI, trong khi 45% nghiên cứu kết luận SES và BMI có mối liên quan nghịch chiều và 31% nghiên cứu kết luận SES và BMI không có mối liên quan hoặc có mối liên quan nghịch chiều tùy thuộc vào các nhóm dân số được nghiên cứu. Như vậy, điều kiện kinh tế - xã hội cao ở các nước phát triển không còn là yếu tố nguy cơ gây TCBP, thay vào đó, sự sẵn có các nguồn lực và chế độ ăn uống hợp lý, tập thể dục và được chăm sóc y tế đầy đủ dẫn đến tỉ lệ TCBP thấp hơn ở các nước phát triển. Gia đình cũng có ảnh hưởng sâu sắc đến những hành vi liên quan tới TCBP. Một tổng kết gần đây từ 58 bài báo cho thấy có mối liên hệ khá thống nhất giữa chế độ ăn uống của cha mẹ với chế độ ăn uống của trẻ.
Các nghiên cứu cũng nhận thấy thói quen ăn uống của cha mẹ, anh chị em ruột cũng có ảnh hưởng tới trẻ. Gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các hành vi liên quan đến béo phì (BP). Việc hiểu rõ mối quan hệ giữa tình trạng của cha mẹ và các yếu tố nguy cơ TCBP sẽ giúp thực hiện các chiến lược can thiệp nhằm giảm tỉ lệ mắc bệnh TCBP ở trẻ em trong các hộ gia đình. Một số bệnh kèm theo thừa cân, béo phì 1.
Thừa cân, béo phì và các bệnh không lây nhiễm THA, đột quỵ và các bệnh tim mạch tăng ở người BP. Một số cơ chế liên quan đến sự phát triển của THA, đột quỵ và bệnh tim mạch, các adipokine tiền viêm và tiền huyết khối có thể góp phần làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, tăng thể tích mạch máu, sức cản động mạch lớn hơn và giải phóng Angiotensinogen từ các tế bào mỡ mở rộng có thể góp phần làm THA. Thừa cân, béo phì và các bệnh rối loạn nội tiết chuyển hóa a. Đái tháo đường: Có mối liên quan chặt chẽ giữa BP và bệnh đái tháo đường (ĐTĐ).
Nguy cơ ĐTĐ không phụ thuộc Insulin tăng lên liên tục khi BMI tăng và giảm đi khi cân nặng giảm. Rối loạn Lipid máu: BP có liên quan với rối loạn Lipid máu bao gồm tăng Trilycerid, tăng Cholesterol và LDL. Khi các acid béo không được sử dụng sẽ tập hợp ở mô mỡ. Tại các mô mỡ này, các acid béo kết nối tạo thành Triglycerid, khi lượng Triglycerid quá nhiều sẽ tràn vào máu gây Triglycerid máu cao.
Hội chứng chuyển hóa: BP làm tăng nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) do BP làm tăng nguy cơ THA, tăng Triglycerid máu đồng thời cũng làm tăng nguy cơ giảm dung nạp Glucose. BP ở trẻ em làm tăng nguy cơ mắc kèm theo bệnh BP và các bệnh mạn tính không lây dẫn đến HCCH ở người trưởng thành 1. Thừa cân, béo phì và chất lượng cuộc sống Trẻ bị TCBP thường bị bạn bè trêu chọc, dẫn đến tâm lý tự ti, cô độc, thậm chí có những biểu hiện tiêu cực như coi thường bản thân. Các tổn thương tâm lý này nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời sẽ kéo dài đến tuổi trưởng thành làm cho trẻ trở nên khó hoà nhập cộng đồng, có tư tưởng nổi loạn, thậm chí có ý định tự vẫn.
Các giải pháp can thiệp để phòng chống thừa cân, béo phì ở trẻ em TCBP là vấn đề sức khoẻ cộng đồng của nhiều quốc gia trên thế giới, do đó biện pháp tiếp cận để phòng chống cần dựa trên việc chăm sóc sức khoẻ cộng đồng. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến TCBP, trong đó các nguyên nhân không thể phòng tránh được cần có các biện pháp khác nhau trong quản lý và điều trị, như các rối loạn về gen, các tình trạng bệnh lý liên quan đến rối loạn chuyển hóa. Bên cạnh đó, nhóm nguyên nhân có thể phòng tránh được là mục tiêu tác động của các can thiệp trong phòng chống TCPB hiện nay, như mất cân bằng năng lượng, các yếu tố về lối sống và môi trường. Biện pháp can thiệp thay đổi khẩu phần và thói quen ăn uống 1.