Thực trạng quản lý sử dụng đất tại xã phong niên huyện bảo thắng tỉnh lào cai

Phân tích thực trạng quản lý, sử dụng đất tại xã Phong Niên, Bảo Thắng, Lào Cai. Đánh giá hiện trạng, khó khăn và đề xuất giải pháp.

Trường đại học

Trường Đại Học Lâm Nghiệp

Chuyên ngành

Quản Lý Đất Đai

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2018

69
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh thực trạng quản lý sử dụng đất tại xã Phong Niên

Xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng là địa bàn có vị trí chiến lược, là cửa ngõ kết nối với huyện Bắc Hà và có quốc lộ 70 đi qua, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, điều này cũng đặt ra nhiều thách thức cho công tác quản lý nhà nước về đất đai. Việc đánh giá đúng thực trạng quản lý sử dụng đất tại xã Phong Niên huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai là nhiệm vụ cấp thiết để đưa ra các giải pháp phù hợp. Theo báo cáo kiểm kê đất đai năm 2017, tổng diện tích tự nhiên của xã là 4.232,98 ha. Cơ cấu đất đai chủ yếu là đất nông nghiệp, chiếm tới 94,43% (3.997,37 ha), trong khi đất phi nông nghiệp chỉ chiếm 5,05% (213,74 ha) và đất chưa sử dụng còn rất ít, khoảng 0,52%. Điều này cho thấy tiềm năng phát triển nông, lâm nghiệp rất lớn nhưng cũng tạo áp lực lên việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất để phục vụ các dự án hạ tầng và dân cư. UBND xã Phong Niên đã phối hợp chặt chẽ với Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Bảo Thắng trong việc triển khai các chính sách đất đai tỉnh Lào Cai, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Việc hiểu rõ hiện trạng sử dụng đất không chỉ giúp tối ưu hóa nguồn lực mà còn là cơ sở để lập quy hoạch sử dụng đất Bảo Thắngkế hoạch sử dụng đất xã Phong Niên một cách bền vững, giảm thiểu tranh chấp đất đai và các vi phạm pháp luật đất đai.

1.1. Phân tích điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội Phong Niên

Xã Phong Niên có địa hình trung du miền núi, chia cắt bởi đồi thấp và khe suối, gây khó khăn cho canh tác và xây dựng. Về kinh tế, nông lâm nghiệp chiếm tới 85% cơ cấu, cho thấy sự phụ thuộc lớn vào tài nguyên đất. Dân số xã năm 2015 là 7.868 nhân khẩu với 1.890 hộ, lao động nông nghiệp chiếm 73% tổng số lao động. Mặc dù hệ thống giao thông, điện, và giáo dục đã được đầu tư, trình độ dân trí chưa cao và tỷ lệ hộ nghèo còn đáng kể (giảm từ 26,07% năm 2016 xuống 11,66% năm 2017) vẫn là thách thức. Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức pháp luật và hành vi sử dụng đất của người dân, dẫn đến tình trạng lấn chiếm, sử dụng sai mục đích, gây khó khăn cho cán bộ địa chính xã.

1.2. Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông và phi nông nghiệp

Tổng diện tích đất nông nghiệp của xã là 3.997,37 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất với 1.848,18 ha. Diện tích đất trồng lúa là 204,68 ha, một nguồn lực quan trọng cần được bảo vệ nghiêm ngặt để đảm bảo an ninh lương thực. Đất phi nông nghiệp có diện tích 213,72 ha, bao gồm đất ở nông thôn (46,13 ha), đất chuyên dùng và đất cho các công trình công cộng. Việc phân bổ quỹ đất đã bước đầu đáp ứng nhu cầu xây dựng hạ tầng và khu dân cư. Tuy nhiên, việc quản lý chặt chẽ quá trình chuyển đổi giữa các loại đất, đặc biệt từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, vẫn là một nhiệm vụ trọng tâm để đảm bảo phát triển kinh tế đi đôi với sử dụng tài nguyên hiệu quả.

II. Top 3 thách thức lớn trong quản lý đất đai tại xã Phong Niên

Công tác quản lý sử dụng đất tại xã Phong Niên đang đối mặt với nhiều tồn tại và thách thức lớn, đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của các cấp chính quyền. Một trong những vấn đề nổi cộm nhất là tình trạng biến động đất đai diễn ra phức tạp, chủ yếu do việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất tự phát, không theo quy hoạch. Theo báo cáo, có tới 291 trường hợp sử dụng đất khác với hồ sơ địa chính, phần lớn do tập quán canh tác của người dân. Thách thức thứ hai là những vướng mắc trong công tác thu hồi đấtbồi thường giải phóng mặt bằng cho các dự án, điển hình là dự án đường giao thông với 34 hộ bị ảnh hưởng nhưng hồ sơ thu hồi vẫn chưa có quyết định cuối cùng. Điều này không chỉ làm chậm tiến độ dự án mà còn tiềm ẩn nguy cơ gây ra tranh chấp đất đai. Cuối cùng, các vi phạm pháp luật đất đai vẫn còn tồn tại, từ việc chuyển đổi đất lúa sang trồng cây khác không xin phép đến việc lấn chiếm chỉ giới giao thông. Những tồn tại trong quản lý đất đai này nếu không được giải quyết triệt để sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững của địa phương.

2.1. Phân tích biến động đất đai và các vi phạm pháp luật

Giai đoạn 2016 - 2017, diện tích đất nông nghiệp giảm 99,01 ha, trong đó đất lâm nghiệp và đất sản xuất nông nghiệp có sự thay đổi lớn. Nguyên nhân chính của sự biến động đất đai này một phần do cập nhật, điều chỉnh lại số liệu sau kiểm kê, phần khác do các hoạt động chuyển đổi của người dân. Các vi phạm pháp luật đất đai phổ biến bao gồm việc tự ý chuyển mục đích sử dụng đất lúa sang trồng cây hàng năm khác hoặc xây dựng công trình nhỏ lẻ mà không tuân thủ kế hoạch sử dụng đất xã Phong Niên. Mặc dù UBND xã Phong Niên đã lập biên bản xử phạt nhiều trường hợp, việc xử lý dứt điểm và khắc phục hậu quả vẫn còn gặp nhiều khó khăn.

2.2. Khó khăn trong thu hồi đất và bồi thường giải phóng mặt bằng

Công tác thu hồi đấtbồi thường giải phóng mặt bằng là một trong những nhiệm vụ nhạy cảm và phức tạp nhất. Tại Phong Niên, việc triển khai các dự án hạ tầng thường xuyên gặp vướng mắc ở khâu này. Nguyên nhân bao gồm trình độ hiểu biết pháp luật của người dân còn hạn chế, dẫn đến việc hòa giải kéo dài. Bên cạnh đó, việc xác định giá đất bồi thường chưa thực sự sát với giá thị trường cũng là một rào cản. Việc chậm trễ trong ban hành quyết định thu hồi đất từ cấp trên khiến chính quyền xã khó đăng ký biến động, ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân và hiệu quả quản lý.

III. Cách đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai Phong Niên

Để đánh giá hiệu quả sử dụng đất và công tác quản lý, cần xem xét toàn diện các hoạt động của UBND xã Phong Niên dựa trên 13 nội dung quản lý nhà nước về đất đai theo Luật Đất đai 2013. Về mặt tích cực, xã đã thực hiện tốt việc ban hành và phổ biến các văn bản pháp luật, xác định địa giới hành chính và lập hồ sơ địa chính khá đầy đủ. Công tác thống kê, kiểm kê đất đai định kỳ được tiến hành nghiêm túc, giúp nắm chắc quỹ đất. Tuy nhiên, một số mặt còn hạn chế. Công tác lập quy hoạch sử dụng đất Bảo Thắng và kế hoạch chi tiết tại xã vẫn chưa đáp ứng đầy đủ tiêu chí nông thôn mới. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn tồn đọng một lượng lớn hồ sơ (975 giấy), và dự án cấp đổi GCN do Đan Mạch tài trợ còn nhiều sai sót cần chỉnh sửa. Hệ thống thông tin đất đai còn thô sơ, chưa ứng dụng các phần mềm hiện đại để quản lý, gây khó khăn cho việc truy xuất dữ liệu và theo dõi biến động đất đai kịp thời. Những điểm này cho thấy cần có sự cải thiện đồng bộ để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai.

3.1. Hiệu quả công tác lập và quản lý quy hoạch kế hoạch sử dụng đất

Công tác lập quy hoạch sử dụng đất xã Phong Niên giai đoạn 2016-2020 đã phân chia các khu vực cụ thể cho sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, lâm nghiệp và các công trình công cộng. Kế hoạch đã xác định rõ vùng chuyên canh ngô, chè, rau an toàn, và cây ăn quả. Tuy nhiên, theo đánh giá theo bộ tiêu chí nông thôn mới, lĩnh vực quy hoạch của xã vẫn "chưa đạt". Việc triển khai quy hoạch vào thực tế còn chậm, và tình trạng người dân tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất không theo quy hoạch vẫn diễn ra, cho thấy công tác quản lý, giám sát quy hoạch cần được tăng cường hơn nữa.

3.2. Thực trạng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất GCNQSDĐ

Tính đến nay, xã đã cấp được 6.891 giấy chứng nhận cho 1.518 hộ trên tổng số 1.897 hộ. Tuy nhiên, số lượng giấy đã ký còn tồn đọng tại xã là 975 giấy. Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới và cấp đổi còn chậm, một phần do hồ sơ dự án có sai sót, một phần do trình độ dân trí hạn chế khiến người dân chưa chủ động hoàn thiện thủ tục. Việc chậm trễ cấp GCN không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của người dân (thế chấp, chuyển nhượng) mà còn gây khó khăn cho nhà nước trong việc quản lý và thu các khoản tài chính từ đất đai.

IV. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đất đai xã Phong Niên

Để khắc phục những tồn tại trong quản lý đất đai, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp chiến lược. Trước hết, cần đẩy nhanh việc rà soát, điều chỉnh và công khai quy hoạch sử dụng đất xã Phong Niên để người dân nắm rõ và tuân thủ. Việc này phải gắn liền với việc tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Bảo Thắng và cán bộ địa chính xã để phát hiện và xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật đất đai, đặc biệt là các trường hợp xây dựng trái phép và tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Giải pháp thứ hai là hiện đại hóa công tác quản lý bằng cách xây dựng hệ thống thông tin đất đai và cơ sở dữ liệu địa chính thống nhất, áp dụng các phần mềm chuyên dụng. Điều này sẽ giúp quản lý biến động kịp thời, minh bạch hóa thông tin, và đơn giản hóa thủ tục hành chính cho người dân. Cuối cùng, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đất đai để nâng cao nhận thức của cộng đồng, giải quyết dứt điểm các vụ tranh chấp đất đai ngay từ cơ sở thông qua hòa giải, và hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ còn lại.

4.1. Tăng cường thanh tra giám sát và xử lý vi phạm

Để lập lại trật tự trong sử dụng đất, cần thiết lập một cơ chế thanh tra, giám sát thường xuyên và đột xuất. Cần quy định rõ trách nhiệm của cán bộ địa chính xã trong việc phát hiện và báo cáo kịp thời các vi phạm. Các hành vi lấn chiếm, sử dụng sai mục đích phải được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật, tránh tình trạng nể nang, bao che. Việc công khai các trường hợp vi phạm và kết quả xử lý cũng là một biện pháp răn đe hiệu quả, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân trên địa bàn.

4.2. Xây dựng hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu địa chính hiện đại

Hiện tại, xã Phong Niên vẫn chưa có một hệ thống thông tin đất đai hoàn chỉnh. Việc đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính dạng số, liên thông từ cấp xã lên huyện là vô cùng cấp thiết. Hệ thống này sẽ giúp số hóa toàn bộ hồ sơ, bản đồ, cho phép cán bộ quản lý truy cập, cập nhật biến động đất đai một cách nhanh chóng và chính xác. Đồng thời, nó tạo nền tảng để cung cấp các dịch vụ công trực tuyến liên quan đến đất đai trong tương lai, giảm thiểu thời gian và chi phí cho người dân, góp phần vào công cuộc cải cách hành chính.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

04/10/2025
Thực trạng quản lý sử dụng đất tại xã phong niên huyện bảo thắng tỉnh lào cai

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Đất đai là một tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia và nó cũng là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất. Các Mác viết: “Đất đai là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông, lâm nghiệp”. Bởi vậy, nếu không có đất đai thì không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, con người không thể tiến hành sản xuất ra của cải vật chất để duy trì cuộc sống và duy trì nòi giống đến ngày nay.

Trải qua một quá trình lịch sử lâu dài con người chiếm hữu đất đai biến đất đai từ một sản vật tự nhiên thành một tài sản của cộng đồng, của một quốc gia. Luật Đất đai năm 1993 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ghi: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay!”. Để đánh giá được một cách đầy đủ và khoa học tình hình quản lý sử dụng đất trên địa bàn xã Phong Niên việc thực hiện đề tài: “Thực trạng quản lý, sử dụng đất tại xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai’’.

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mục tiêu tổng quát Đánh giá thực trạng quản lý và sử dụng đất, làm cơ sở đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Mục tiêu cụ thể Đánh giá được hiện trạng quản lý, sử dụng dụng đất trên địa bàn xã Phong Niên. Phân tích và đánh giá được những thành tựu, tồn tại hạn chế của công tác quản lý, sử dụng đất ở khu vực.

Làm sở đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng đất ở khu vực nghiên cứu. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Xã Phong Niên là vùng thấp nằm ở phía đông bắc của huyện Bảo Thắng, trung tâm xã cách trung tâm huyện là 15 km và cách thành phố Lào Cai 34 km. Tổng diện tích tự nhiên 4225 ha.Phía Bắc và đông bắc giáp Phong Hải.Phía Nam giáp xã Xuân Quang.Phía Đông giáp xã Bảo Nhai huyện Bắc Hà.Phía Tây giáp xã Thái Niên. Là cửa ngõ của huyện Bảo thắng tiếp giáp với huyện Bắc Hà, có trục đường Quốc lộ 70 chạy qua với chiều dài khoảng 7 km, đây là điều kiện rất thuận lợi cho việc phát triển tổng thể kinh tế - xã hội trong tương lai, nhất là phát triển các khu công nghiệp, khu thương mại - dịch vụ và mở rộng không gian kiến trúc nông thôn.

Hệ thống giao thông ngày càng hoàn thiện là thế mạnh lớn để xã phát triển về mọi mặt.Cơ cấu kinh tế, nông, lâm nghiệp chiếm 85% (trong đó sản xuất nông nghiệp là chủ yếu), tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ 15%.Những năm gần đây, kinh tế của xã có bước phát triển khá, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực. Đời sống người dân được cải thiện cả về vật chất lẫn tinh thần kèm theo đó nhu cầu sử dụng đất ngày càng tăng cao. Tuy nhiên, thực tế ở đây hiện tượng chuyển đổi mục đích sử dụng đất không theo quy định dẫn đến sự biến động về đất đai. Đây cũng là những khó khăn đối với công tác quản lý đất đai ở khu vực(Tổng thể xây dựng nông thôn mới, 2015).

8 PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.Khái niệm về đất đai Luật đất đai hiện hành đã khẳng định “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công tình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng”. Như vậy, đất đai là điều kiện chung nhất đối với mọi quá trình sản xuất và hoạt động của con người. Nói cách khác, không có đất sẽ không có sản xuất cũng như không có sự tồn tại của chính con người. Do vậy, để có thể sử dụng đúng, hợp lý và có hiệu quả toàn bộ quỹ đất thì việc hiểu rõ khái niệm về đất đai là vô cùng cần thiết.

Về mặt thuật ngữ khoa học “Đất” và “Đất đai” có sự phân biệt nhất định. Theo các nhà khoa học thì “Đất” tương đương với từ “Soil” trong tiếng Anh, nó có nghĩa trùng với thổ hay thổ nhưỡng bao hàm ý nghĩa về tính chất của nó. Còn “Đất đai” tương đương với từ “Land” trong tiếng Anh, nó có nghĩa về phạm vi không gian của đất hay có thể hiểu là lãnh thổ. Giả thuyết Trái đất được hình thành như thế nào và có từ bao giờ cũng là vấn đề con người đã từng dày công nghiên cứu.

Sự sống xuất hiện trên Trái đất và tác động vào nó là một quá trình tiến hóa không ngừng. Theo nghĩa hẹp hơn, từ khi có sự xuất hiện của con người, con người cùng với sự tiến hóa của mình cũng không ngừng tác động vào đất (chủ yếu là lớp vỏ địa lý) và làm thay đổi nó một cách nhất định. Theo tiến trình này, con người cũng nhận thức về đất đai một cách đầy đủ hơn. Ví dụ: “Đất đai là một tổng thể vật chất gồm cả sự kết hợp giữa địa hình và không gian tự nhiên của thực thể vật chất đó”; hoặc: “Một vạt đất là một diện tích cụ thể của bề mặt Trái đất.

Xét về mặt địa lý, có những đặc tính tương đối ổn định hoặc những tính chất biến đổi theo chu kỳ có thể dựa đoán được của sinh quyển theo chiều thẳng đứng phía trên và phía dưới của phần mặt đất này. Nó bao gồm các đặc tính của phần không khí, thổ nhưỡng địa 8 chất, thủy văn, cây cối, động vật sinh sống trên đó và tất cả các hoạt động trong quá khứ và hiện tại của con người ở chừng mực mà những đặc tính đó có 9 ảnh hưởng tới sử dụng vạt đất này trước mắt và trong tương lai” (Brink man và Smyth, 1976). Tuy nhiên, khái niệm đầy đủ và phổ biến nhất hiện nay về đất đai như sau: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm vá khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường sá, nhà cửa. Như vậy, đất đai là một khoảng không gian có thời hạn theo chiều thẳng đứng (gồm khí hậu của bầu khí quyển, lớp đất phủ bề mặt, thảm động thực vật, nước mặt, nước ngầm và tài nguyên khoáng sản trong lòng đất) theo chiều ngang - trên mặt đất (là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn cùng nhiều thành phần khác) giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội loài người(Nguyễn Hữu Ngữ, 2010).

a, Vấn đề sử dụng đất Sử dụng đất liên quan đến chức năng hoặc mục đích của loại đất được sử dụng. Việc sử dụng đất đai có thể được định nghĩa là:“những hoạt động của con người có liên quan trực tiếp tới đất, sử dụng nguồn tài nguyên đất hoặc có tác động lên chúng”( Ban biên tập Từ điển tiếng Việt của viện Ngôn ngữ học, 2002). Số liệu về quá trình và hình thái các hoạt động đầu tư (lao động, vốn, nước, phân hóa học…), kết quả sản lượng (loại nông sản, thời gian, chu kỳ mùa vụ…) cho phép đánh giá chính xác việc sử dụng đất, phân tích tác động môi trường và kinh tế, lập mô hình những ảnh hưởng của việc biến đổi sử dụng đất hoặc việc chuyển đổi việc sử dụng đất này sang mục đích sử dụng đất khác. Phạm vi sử dụng đất, cơ cấu và phương thức sử dụng đất một mặt bị chi phối bởi các điều kiện quy luật sinh thái tự nhiên, mặt khác bị kiềm chế bởi các điều kiện kinh tế - xã hội và các yếu tố kỹ thuật.

Vì vậy có thể khái quát một số điều kiện và nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất. 10 Điều kiện tự nhiên: khi sử dụng đất đai, ngoài bề mặt không gian như diện tích trồng trọt, mặt bằng xây dựng…, cần chú ý đến việc thích ứng với điều kiện tự nhiên và quy luật sinh thái tự nhiên của đất cũng như các yếu tố bao quanh mặt đất như: yếu tố khí hậu, yếu tố địa hình, yếu tố thổ nhưỡng. Điều kiện kinh tế - xã hội: bao gồm các yếu tố như chế độ xã hội, dân số, lao động, thông tin, các chính sách quản lý về môi trương, chính sách đất đai, yêu cầu về quốc phòng, sức sản xuất, các điều kiện về công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông, vận tải, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, điều kiện và trang thiết bị vật chất cho công tác phát triển nguồn nhân lực, đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Yếu tố không gian: đây là một tính chất “đặc biệt” khi sử dụng đất do đất đai là sản phẩm của tự nhiên, tồn tại ngoài ý chí và nhận thức của con người.

Đất đai hạn chế về số lượng, có vị trí cố định và là tư liệu sản xuất không thể thay thế được khi tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội(Ban biên tập Bách khoa tri thức phổ thông, 2000). b, Vấn đề quản lý đất đai Quản lý đất đai bao gồm những chức năng, nhiệm vụ liên quan đến việc xác lập và thực thi các quy tắc cho việc quản lý, sử dụng và phát triển đất đai cùng với những thuận lợi thu được từ đất (thông qua việc bán, cho thuê hoặc thu thuế) và giải quyết những tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu và quyền sử dụng đất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ