mở đầu dé một thương nhân nước ngoài xác định tiềm năng của thị trường và lên kế hoạch mở rộng quy mô hoạt động sau này. Hình thức Văn phòng đại diện chỉ mang tính chất tìm hiểu thị trường nên Văn phòng đại diện thường có quy mô nhỏ, hoạt động thương mại bị hạn chế, không được hoạt động sinh lợi trên thị trường và phụ thuộc vào thương nhân nước ngoài dựa trên thỏa thuận đã có. Thương nhân nước ngoài phải được cấp Giấy phép thành lập Văn phòng đại diện dựa trên những điều kiện nhất định theo pháp luật Việt Nam Nhận định được tầm quan trọng của Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài khi hoạt động thương mại tại Việt Nam, Luật Thương mại 2005 đã đưa ra khái niệm: “Van phòng đại điện của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam là đơn vị phụ thuộc của thương nhân nước ngoài, được thành lập theo quy định cua pháp luật Việt Nam để tìm hiểu thị trường và thực hiện một số hoạt động xúc tiễn thương mai mà pháp luật Việt Nam cho phép ””. Khoản 6 Điều 3 Luật Thuong mại 2005.
14 Do Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc, không có sự độc lập, phụ thuộc về tài chính và hoạt động trong phạm vi được ủy quyền của thương nhân nước ngoài nên Văn phòng đại diện hoàn toàn không có tư cách pháp nhân, là đại diện theo ủy quyền của thương nhân nước ngoài và có quyền và nghĩa vụ bị hạn chế, chỉ được hoạt động thương mai trong một phạm vi nhất định dựa trên thỏa thuận ủy quyền của thương nhân nước ngoài đó. Vì vậy, thương nhân nước ngoài phải chịu trách nhiệm đối với hoạt động thương mại của Văn phòng đại diện.2 Chỉ nhánh của thương nhân nước ngoài Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam là một hình thức hoạt động thương mại tại Việt Nam của thương nhân nước ngoài và được pháp luật Việt Nam công nhận. Luật Thuong mại 2005 đã quy định “Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam là đơn vị phụ thuộc của thương nhân nước ngoài được thành lập và hoạt động thương mai tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế ma Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên xã Hình thức Chi nhánh được thành lập với mục đích hoạt động vì mục đích sinh lợi trực tiếp tại thị tường Việt Nam nên phạm vi hoạt động của Chi nhánh được mở rộng rất nhiều so với Văn phòng đại diện, tuy nhiên, cũng giống như Văn phòng đại diện, Chi nhánh van là đơn vị phụ thuộc vào thương nhân nước ngoài dựa trên thỏa thuận đã có. Thương nhân nước ngoài cũng cần phải được cấp Giấy phép thành lập Chi nhánh dựa trên những điều kiện nhất định theo pháp luật Việt Nam.
Tuy Chi nhánh của thương nhân nước ngoài không có tư cách pháp nhân nhưng khác với Văn phòng đại diện chỉ có chức năng giới hạn chủ yếu là thực hiện hoạt động xúc tiến thương mại, nghiên cứu thị trường, tìm kiếm đối tác cho thương nhân, Chi nhánh được Š Khoản 7 Điều 3 Luật Thương mại 2005 15 quyền hoạt động kinh doanh sinh lời theo các quy định pháp luật như: giao kết hợp đồng tại Việt Nam, chuyên lợi nhuận ra nước ngoài, thực hiện các hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động thương mại khác phù hợp với quy định pháp luật °. Vì Chi nhánh của thương nhân nước ngoài có quyên tiễn hành các hoạt động thương mại, kinh doanh sinh lời tại thị trường Việt Nam nên dé bảo dam cho viéc canh tranh lanh manh, bao vé quyén va loi ich hop phap cua Chi nhánh cũng như thé hiện rõ chính sách mở cửa, thu hút đầu tư nước ngoài thi hoạt động thương mại của Chi nhánh thương nhân nước ngoài phải tuân thủ theo quy định của pháp luật Việt Nam và các Điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương mà Việt Nam là thành viên.3 Doanh nghiệp có vẫn đầu tw nước ngoài Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một hình thức hoạt động thương mại tại Việt Nam của thương nhân nước ngoài được pháp luật Việt Nam công nhận. Luật Thuong mại 2005 đã quy định thương nhân nước ngoai được phép thành lập tại Việt Nam các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo các hình thức do pháp luật Việt Nam công nhận '. Khái niệm của Doanh nghiệp có vốn dau tư nước ngoài đã được quy định trong Luật Dau tư 2014, theo đó, “76 chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà 3 , we TY QUA.
ff oll dau tu nước ngoài là thành viên hoặc cô đông. Bên cạnh các quy định pháp luật của Việt Nam, các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên là cơ sở dé Việt Nam xây dựng và điều chỉnh khung pháp ly phù hợp nham tao điều kiện cho thương nhân nước ngoài đến thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam để hoạt động kinh doanh thương mại nên Doanh nghiệp có von đầu tư Huỳnh Phan Thiên Phúc (2005), Van phòng dai điện của thương nhân nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Học viện Khoa học Xã hội, Ha Nội, tr.12 '“biều 19 Luật Thương mại 2005 !! Khoản 2 Điều 16 Luật Thương mại 2005 !*“ Khoản 17 Điều 3 Luật Dau tư 2014. 16 nước ngoài cũng chịu sự điêu chỉnh cua các Điêu ước quôc tê mà Việt Nam là thành viên. Hình thức Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khác với Văn phòng đại diện và Chi nhánh.
Với đặc điểm là đơn vị độc lập và được góp vốn thành lập, đăng ký kinh doanh theo pháp luật Việt Nam và được coi như thương nhân Việt Nam, hình thức Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được tự do hoạt động thương mại theo pháp luật Việt Nam và được hưởng các quyền lợi như thương nhân Việt Nam. Theo khái niệm tại Luật Đầu tư 2014, có thể hiểu Doanh nghiệp có von đầu tư nước ngoài là một loại hình tô chức kinh tế, trong đó có một hoặc nhiều chủ thể nước ngoài và trong nước cùng nhau góp vốn, quản lý, hoạt động kinh doanh thương mại vì mục tiêu lợi nhuận. Tùy theo cách thức góp vốn và phạm vi chịu trách nhiệm đối với hoạt động của doanh nghiệp mà thương nhân nước ngoài có thể thành lập theo pháp luật Việt Nam các hình thức doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cô phần, Công ty hợp danh theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014. Khác với Chi nhánh và Văn phòng đại diện, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có tư cách pháp nhân, thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên thì được coi như thương nhân Việt Nam” và được hưởng các quyền, nghĩa vụ, chính sách áp dụng như thương nhân Việt Nam khi hoạt động thương mại trên thị trường.
Với việc quy định hình thức hoạt động thương mại là thành lập Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài này trong Luật Thương mại 2005, các cơ 'S Khoản 4 Điều 16 Luật Thương mại 2005 17 quan nhà nước có thâm quyên có thê tạo cơ sở cho các quy định chặt chẽ hơn liên quan đên việc quản lý nhà nước đôi với loại hình doanh nghiệp có vôn ` z xẻ ` ren ` * ^ : RK Ẫ A14 dau tư nước ngoài, phù hợp với yêu câu hội nhập kinh tê quôc tê.Thấm quyền cho phép thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam Đề thực hiện các hoạt động thương mại tại Việt Nam, thương nhân nước ngoài cần phải được sự cho phép và quản lý của các cơ quan nhà nước có thâm quyên theo quy định tại các văn bản pháp luật. Theo Luật Thuong mại 2005, các cơ quan nhà nước có sự phân chia thâm quyền và nhiệm vụ đối với hoạt động cho phép thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam. Trong đó,về mặt quản lý chung, Chinh phi là co quan thống nhất quản lý việc cho phép thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam. Bên cạnh đó, việc quản lý hoạt động, cho phép thương nhân nước ngoài tại Việt Nam có sự phối hợp giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương).
Cu thể, Bộ Kế hoạch và Pau tu là co quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý việc cấp giấy phép cho thương nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam; Độ Công Thương chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý việc cấp giấy phép thành lập Văn phòng đại diện, thành lập Chi nhánh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam trong trường hợp thương nhân nước ngoài chuyên thực hiện các hoạt động thương mại liên quan đến mua bán hàng hóa. Ngoài ra, Đó, co quan ngang Bộ cũng có thâm quyền chịu trách nhiệm trước Chính phủ cấp giấy phép cho thương nhân nước ngoài trong trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định Š. !4 La Hoàng Oanh (2007), “Bình luận các van đề mới của Luật Thương mại trong điều kiện hội nhập”, Nhà Xuât bản Tư pháp, tr. 'S Điều 22 Luật Thương mại 2005 18 Các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Thương mại 2005 cũng đã quy định, thâm quyền cho phép thương nhân nước ngoài với từng hình thức hoạt động thương mại có sự phân chia để để nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động của thương nhân nước ngoài trên địa bàn.
Cụ thê như sau: - Đối với hình thức Văn phòng đại diện, thẩm quyền cấp Giấy phép thành lập Văn phòng đại diện thuộc về Sở Công thương các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương va Ban quản jý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao nơi thương nhân dự kiến đặt trụ sở Văn phòng đại diện '. - Đối với hình thức Chi nhánh, thâm quyền cấp Giấy phép thành lập Chi nhánh thuộc về Bộ Công Thương trong trường hợp việc thành lập Chi nhánh chưa được quy định tại văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành'”. - Đối với hình thức Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Cơ quan đăng ký kinh doanh ở cấp tỉnh là Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tưỞ là cơ quan có thấm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho Doanh nghiệp có vôn đâu tư nước ngoài.3 Thủ tục dang ký hoạt động thương mai tại Việt Nam của thương nhân nước ngoài Đề hoạt động thương mại tại Việt Nam, thương nhân nước ngoài cần phải thực hiện các thủ tục đăng ký hoạt động thương mại tại Cơ quan nhà nước có thầm quyên theo Mục 1.