MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam đã và đang là một nƣớc nông nghiệp với hơn 70% dân số đang sống tại vùng nông thôn. Sau hơn 20 năm thực hiện đƣờng lối đổi mới, dƣới sự lãnh đạo của Đảng nông nghiệp, nông thôn, nông dân đã đạt đƣợc nhiều thành tựu khá toàn diện và to lớn. Giúp cho đời sống nhân dân đƣợc cải thiện hơn, nhƣng so với các nƣớc phát triển trong khu vực, đối chiếu với các mục tiêu CNH-HĐH đất nƣớc thì nông nghiệp, nông thôn nƣớc ta còn khá là lạc hậu và có rất nhiều yếu kém.
Nông thôn phát triển thiếu quy hoạch và cơ bản là tự phát, kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội tuy có biến đổi tích cực về điện, đƣờng, trƣờng, trạm song vẫn lạc hậu; mức sống vật chất, văn hóa, y tế, giáo dục đã đƣợc cải thiện nhƣng vẫn còn thấp thiếu sự quan tâm và đầu tƣ; tỉ lệ hộ nghèo còn cao, nhất là vùng đồng bào dân tộc, vùng xâu, vùng xa; chênh lệch giàu, nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xức; hệ sinh thái môi trƣờng cũng bị biến đổi, ô nhiễm ngày càng nhiều; năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai còn nhiều hạn chế; chuyển dịch cơ cấu các ngành nghề trong nông nghiệp phát triển còn chƣa bền vững, tốc độ tăng trƣởng có xu hƣớng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chƣa phát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản xuất, nghiên cứu, chuyển giao khao học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế. Có thể có thể xây dựng thôn mới (NTM) là chủ trƣơng tầm cỡ chiến lƣợc đặc biệt quan trọng của Đảng và Nhà nƣớc ta, nhằm cụ thể hóa việc thực hiện Nghị quyết lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa X ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5 tháng 8 năm 2008 “Về nông nghiệp. nông dân, nông thôn” Chủ trƣơng này có mục đích toàn diện: Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội nông thôn từng bƣớc hiện đại, xây dựng cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý gắn công nghiệp với phát triển dịch vụ, gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch, xây dựng xã hội Nông thôn mới dân chủ, ổn định, giàu bản sắc dân tộc, bảo vệ môi trƣờng sinh thái, giữ vững an n 2 ninh trật tự, tăng cƣờng hệ thống chính trị ở nông thôn dƣới sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Chủ trƣơng xây dựng NTM mang tính nhân văn sâu sắc, vừa là mục tiêu, yêu cầu phát triển bền vững, vừa là nhiệm vụ cấp bách, lâu dài đòi hỏi phát triển đúng quy định đồng bộ, chắc chắn.
Đây là chƣơng trình mang tính toàn diện vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển lâu dài,bền vững ở khu vực nông thôn hƣớng đến “ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Động Đạt là một xã thuộc địa bàn huyện Phú lƣơng, đời sống của ngƣời dân còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế. Trong vài năm qua, hƣởng ứng chƣơng trình mục tiêu quốc gia về Nông thôn mới, đƣợc sự giúp đỡ của Đảng, Nhà nƣớc và các tổ chức. Tình hình kinh tế xã hội của xã có nhiều bƣớc phát triển, đời sống nhân dân ngày càng đƣợc nâng cao, hoạt động đầu tƣ hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật các công trình xây dựng đƣơc triển khai tƣơng đối mạnh, bƣớc đầu đáp ứng đƣợc yêu cầu phát triển Nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay.
Xuất phát từ những vấn đề đó đƣợc sự đồng ý của Ban Giám hiệu Trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm Khoa Quản Lý Tài Nguyên, dƣới sự hƣớng dẫn của Cô giáo Ths. Dƣơng Thanh Hà, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng nông thôn và giải pháp nhằm xây dựng Nông thôn mới tại xã Động Đạt, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên ”. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu tổng quát - Đánh giá thực trạng Nông thôn mới và tiến trình phát triển kinh tế xã hội trong quá trình chuyển đổi công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn tại xã Động Đạt.
Mục tiêu cụ thể - Đánh giá hiện trạng hệ thống cơ sở hạ tầng theo tiêu chuẩn xây dựng Nông thôn mới tại xã Động Đạt - huyện Phú Lƣơng - tỉnh Thái Nguyên. - Đề xuất những giải pháp về phát triển cơ sở hạ tầng cho xã Động Đạt, nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu Đây là cơ hội tốt cho sinh viên thực hành khảo sát thực tế, áp dụng những kiến thức lý thuyết vào thực tiễn, và có cơ hội gặp gỡ, học tập, trao đổi kiến thức với những ngƣời có kinh nghiệm và ngƣời dân địa phƣơng, từ đó bổ sung những kiến thức, kỹ năng còn thiếu cho bản thân.
Trau dồi khả năng tiếp cận, thu thập số liệu và xử lý thông tin của sinh viên trong quá trình làm đề tài. Có cái nhìn tổng thể về thực trạng hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn trên địa bàn xã và có thể so sánh đƣợc một số chỉ tiêu so với các xã khác trên địa bàn huyện dựa trên Bộ tiêu chí Quốc gia quốc gia về xây dựng Nông thôn mới của chính phủ. Đề tài cũng đƣợc coi là một tài liệu tham khảo cho Trƣờng, Khoa, các cơ quan trong các ngành và các sinh viên khóa tiếp theo. Ý nghĩa trong thực tiễn Đề tài góp phần vào tìm hiểu, phân tích, đánh giá thực trạng và đƣa ra các giải pháp cho vùng nông thôn trên địa bàn xã.
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở giúp cho xã Động Đạt có những định hƣớng phát triển phù hợp với điều kiện của địa phƣơng. Là cơ sở pháp lý cho việc lập các dự án đầu tƣ xây dựng và quản lý xây dựng theo quy hoạch và cấp phép xây dựng. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Một số khái niệm 2.
Khái niệm về nông thôn Cho đến nay, vẫn chƣa có một định nghĩa chuẩn xác nào đƣợc chấp nhận một cách rộng rãi về nông thôn, có rất nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn, khi nói tới nông thôn ngƣời ta thƣờng đặt mối tƣơng quan với đô thị. Trong từ điển Tiếng Việt của viện ngôn ngữ học, nông thôn đƣợc định nghĩa là khu vực tập trung chủ yếu dân cƣ làm nghề nông. Thành thị đƣợc định nghĩa là khu vực dân cƣ làm các ngành nghề ngoài nông nghiệp. Hai định nghĩa nêu trên chỉ mới chỉ nói lên một vài đặc điểm cơ bản khác nhau giữa nông thôn và thành thị.
Thực tế sự khác nhau giữa nông thôn và thành thị không phải chỉ ở đặc điểm nghề nghiệp của dân cƣ, mà còn khác nhau về mặt tự nhiên, kinh tế, xã hội. Về mặt tự nhiên, nông thôn là vùng có đất đai rộng lớn, bao quanh các đô thị. Và có sự khác nhau về địa hình, khí hậu, thủy văn,… Về kinh tế, nông thôn chủ yếu là nông nghiệp (nông, lâm, ngƣ nghiệp). cơ sở hạ tầng nông thôn lạc hậu, thấp kém hơn đô thị.
Trình độ phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ sản xuất hàng hóa…cũng kém hơn thành thị. Về xã hội, trình độ học vấn, điều kiện cho giáo dục, y tế, đời sống vật chất, tinh thần của dân cƣ nông thôn thấp hơn dân cƣ thành thị. Tuy nhiên những di sản văn hóa, phong tục tập quán cổ truyền ở nông thôn lại thƣờng phong phú hơn thành thị (Nguyễn Thị Minh Châu, 2011) [5]. Có những quan điểm khác nêu ra chỉ cần dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trƣờng phát triển hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trƣờng.
Nhƣng lại có những quan điểm khác cho rằng , vùng nông thôn là vùng dân cƣ làm nông n 5 nghiệp là chủ yếu, tức nguồn sinh kế chính là sản xuất nông nghiệp. Những quan điểm này chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụ thể của từng khu vực, từng nƣớc. Chính vì thế khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tƣơng đối theo thời gian, theo tiến trình phát triển xã hội. Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, nhìn nhận dƣới góc độ quản lý, có thể hiểu : “ Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân.
Tập hợp cư dân này tham gia các hoạt động vào kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác” (Vũ Thị Hiền, 2010) [11]. Nói đến nông thôn ngƣời ta nghĩ ngay đến các hoạt động nông nghiệp và các hoạt động , tổ chức liên quan đến nông nghiệp. Khái niệm về Nông thôn mới Cho đến nay chƣa có một khái niệm nào chuẩn xác đƣợc chấp nhận một cách rộng rãi về nông thôn. Nông thôn và đô thị là những vùng lãnh thổ có những nét nổi bật cơ bản ở chỗ cả hai không có ranh giới rõ rệt, nhƣng cả hai đều có mối quan hệ khăng khít với nhau.
Các khu vực nông thôn gắn liền với trung tâm của nó - đó là những vùng đô thị, hay ít ra cũng mang những nét căn bản của đô thị. Trong lòng các nông thôn luôn tồn tại những trung tâm nhƣ thế. Vì thế nảy sinh ra vấn đề là cần định nghĩa xem đâu là nông thôn, đâu là đô thị, đồng nghĩa với việc xác định dân thuộc về vùng nông thôn và thuộc về vùng đô thị. Khi đó cần chú ý đến sự giáp ranh giữa khu vực này.
Trong thực tế, phát triển xã hội giữa nông thôn và đô thị có một vùng “ mờ “ pha tạp giữa nông thôn và đô thị, đó là vùng đô thị hóa và vùng ven đô. Ở mỗi quốc gia đều có sự phân biệt khác nhau giữa vùng nông thôn và đô thị. Chẳng hạn tại Mỹ, một loạt khu chung cƣ cao tầng ở nông thôn không đƣợc xếp vào đô thị. Ở Nga, ngƣời ta quan điểm đô thị là những tụ điểm dân cƣ từ trên chục nghìn ngƣời trở lên (Tô Duy Hợp và cs,2000)[9].
n 6 Ở Việt Nam chúng ta cần phải nhận thức về nội dung chức năng nông thôn mới XHCN Việt Nam.