Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận về nguồn nhân lực, nhân lực y tế 1. Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là nguồn lực con người được xem xét ở 2 khía cạnh [4]: Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc: là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm trong bản thân con người, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác.
So với các nguồn lực khác như tài nguyên, tài chính và các yếu tố vật chất (như nguyên vật liệu, máy móc, thông tin…) với tính chất là có giới hạn và thụ động, thì nguồn nhân lực lại có đặc điểm là vô tận, là chủ động, tích cực và sáng tạo. Sự ưu việt của nguồn nhân lực so với các nguồn lực khác chính là do bản chất của con người [15]. Thứ hai, nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể nguồn nhân lực của từng cá nhân con người. Với tư cách là một nguồn nhân lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định.
Từ đó ta có thể khái quát chung nhất, nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội. Khái niệm nguồn nhân lực y tế Ở bất cứ xã hội nào, nguồn nhân lực y tế đều đóng vai trò quan trọng trong hệ thống y tế. Một cơ sở y tế có nguồn nhân lực dồi dào, trình độ chuyên môn cao sẽ góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế cũng như sử dụng các trang thiết bị hiện đại.
Quản lý và điều hành tốt NLYT không những giúp nâng cao chất lượng dịch vụ y tế mà còn tăng cường công bằng trong chăm sóc sức khỏe và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Khi nói đến nguồn nhân lực y tế, người ta bàn đến trình độ, cơ cấu, sự đáp ứng với yêu cầu của việc cung cấp dịch vụ y tế. Chất lượng 5 nguồn nhân lực phản ánh ở kiến thức, kỹ năng và thái độ của nhân viên y tế trong việc cung cấp dịch vụ y tế [4]. Theo định nghĩa nhân lực y tế của WHO, ở Việt Nam các nhóm đối tượng được coi là “Nhân lực y tế” bao gồm các cán bộ, NVYT thuộc biên chế và hợp đồng đang làm trong hệ thống y tế công lập (bao gồm cả quân y), các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học, dược và tất cả những người đang tham gia vào các hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân (NVYT tư nhân, các cộng tác viên y tế, lương y, bà đỡ, mụ vườn) [5].
Tính chất đặc thù của nhân lực y tế Nhân lực y tế có những đặc thù: Nghề y là một nghề cao quý được xã hội tôn vinh bởi vì nghề y có nhiệm vụ chữa bệnh cứu người, bảo vệ sự sống và nâng cao sức khỏe của nhân dân. Nghề y đòi hỏi phải có lòng nhân ái, dám chịu đựng vất vả, hy sinh để cứu người, tôn trọng nhân phẩm và quyền lợi bệnh nhân, thực hiện các quy tắc ứng xử có trách nhiệm và không phân biệt đối xử. Giáo dục và đào tạo nhân lực y tế cần đầu tư lớn, sự phối hợp chặt chẽ và có kế hoạch: việc đào tạo CBYT, đặc biệt là đội ngũ bác sĩ cần một khoảng thời gian dài với sự giám sát chặt chẽ và tốn kém. Để giải quyết tốt vấn đề này đòi hỏi sự hợp tác, phối hợp và xây dựng kế hoạch lâu dài trong cùng ngành và giữa 2 ngành giáo dục và y tế.
Lợi thế của thị trường không phù hợp với bản chất của lĩnh vực y tế: Nguyên nhân là do sự mất cân xứng trong kiến thức và thông tin giữa người cung ứng dịch vụ và người bệnh (người bệnh không đủ kiến thức và thông tin để đánh giá và lựa chọn dịch vụ y tế có chất lượng), điều này cũng tạo ra tính độc quyền trong y tế, tính cạnh tranh yếu giữa các cơ sở và người cung cấp dịch vụ y tế. Rủi ro và sự không chắc chắn: các can thiệp y tế luôn chứa đựng nhiều rủi ro và sự không chắc chắn trong việc lựa chọn phương pháp điều trị tốt nhất cho từng bệnh nhân, cũng như phản ứng của từng bệnh nhân đối với từng phương pháp điều trị khác nhau… 6 Đặc điểm phức tạp của nguồn NLYT cần có sự can thiệp, quan tâm của Chính Phủ trong việc lập kế hoạch và điều phối nguồn NLYT nhiều hơn là đối với nguồn nhân lực ở các ngành khác [1]. Quản lý nguồn nhân lực y tế 1. Quản lý nhân lực Có nhiều định nghĩa về quản lý tùy theo cách tiếp cận khác nhau, tuy nhiên đầy đủ nhất về nội hàm và tính phổ quát: “Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhầm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường”.
Quản lý bao gồm các yếu tố (điều kiện) nội bộ là: chủ thể, đối tượng quản lý và mục tiêu [7]. Con người là chủ thể của mọi hoạt động trong tổ chức, do đó việc phát huy các yếu tố con người hay không sẽ quyết định đến hiệu quả hoạt động của tổ chức, con người là yếu tố phức tạp nhất trong tất cả của hàm sản xuất, vừa có tính đặc thù của xã hội vừa có đặc tính tâm sinh lý cá nhân, do đó hành vi của con người rất phức tạp và thay đổi tùy thuộc vào tác động của hai đặc tính trên. Chính vì vậy, quản lý nguồn nhân lực khó khăn và phức tạp hơn nhiều so với quản lý các nguồn lực khác. Quản lý nguồn nhân lực nghiên cứu các vấn đề về quản lý con người trong các tổ chức ở tầm vi mô và có 2 mục tiêu cơ bản: Sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực nhằm tăng năng suất lao động và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức.
Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân viên, tạo điều kiện cho nhân viên được phát huy tối đa các năng lực cá nhân, được kích thích, động viên nhiều nhất tại nơi làm việc và trung thành, tận tâm với tổ chức [9]. Trong nền kinh tế thị trường, quản lý nhân lực còn nhằm mục đích tuyển chọn được những người có năng lực, nhanh nhạy và cống hiến trong công việc, quản lý hoạt động và khen thưởng kết quả hoạt động động cũng như phát triển năng lực của họ [4]. Quản lý nhân lực trong y tế Theo Tổ chức Y tế thế giới khu vực Tây Thái Bình Dương (WPRO), “quản lý nguồn nhân lực là một quá trình tạo ra môi trường tổ chức thuận lợi và đảm bảo 7 hoàn thành tốt một công việc của mình bằng việc sử dụng các chiến lược nhằm xác định và đạt tối ưu về số lượng, cơ cấu và sự phân bố nhân lực với chi phí hiệu quả nhất. Mục đích chung là để có số nhân lực cần thiết, làm việc tại từng vị trí phù hợp, đúng thời điểm, thực hiện đúng công việc và được hỗ trợ chuyên môn phù hợp với mức chi phí hợp lý.” [23] Quản lý nhân lực trong quá trình cung cấp dịch vụ nói chung, quản lý dịch vụ y tế nói riêng còn khó khăn phức tạp hơn nhiều so với quản lý nhân lực trong sản xuất hàng hóa.
Quản lý nhân lực được đánh giá là một khâu hết sức quan trọng trong quá trình tổ chức cung cấp dịch vụ y tế. Quản lý nhân lực y tế được xem là một hướng tiếp cận chiến lược liên kết vấn đề phát triển con người với việc đạt được các mục tiêu tổ chức cung cấp dịch vụ y tế [4]. Trong hệ thống y tế, quản lý NLYT là bất kỳ hoạt động nào, một hệ thống hoặc chính sách nào dẫn đến việc tuyển dụng, đào tạo (kỹ năng, kiến thức và thái độ) và sử dụng cán bộ y tế (bố trí và phân công nhiệm vụ) có hiệu quả hơn để góp phần tăng cường sức khỏe cộng đồng. Những công tác về quản lý NLYT đều hướng tới đạt 03 mục tiêu (bao phủ, năng lực và động lực).
Đó là cơ sở tạo ra tính công bằng hiệu quả của hệ thống y tế, từ đó thực hiện mục tiêu cuối cùng là chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân [5]. Vai trò của quản lý nhân lực y tế Trong hệ thống y tế, quản lý nhân lực là bất kỳ hoạt động nào, một hệ thống hoặc chính sách nào dẫn đến việc đào tạo (kỹ năng, kiến thức và thái độ), sử dụng cán bộ, bố trí và phân công nhiệm vụ có hiệu quả hơn để góp phần tăng cường sức khỏe cộng đồng [10]. Quản lý NLYT là quản lý một tài sản lớn nhất của cơ sở đó là con người. Không có NNL tốt các cơ sở sẽ không thực hiện được các chiến lược một cách hiệu quả và không đạt được mục tiêu đề ra.
Nếu nhà quản lý y tế quản lý tốt NNL, thì các cơ sở y tế sẽ có được các nhân viên được đào tạo giỏi, có kỹ năng nghề nghiệp có kiến thức và sự nhiệt tình trong công việc, khuyến khích được các nhân viên y tế làm việc hết khả năng của mình, từ đó tạo được thế mạnh và uy tín cao cho các cơ sở y tế đối với nhân dân. Mặc khác quản lý các nguồn lực khác cũng sẽ không có 8 hiệu quả nếu tổ chức không quản lý tốt nguồn nhân lực, vì suy cho cùng mọi hoạt động quản lý đều thực hiện bởi con người [13]. Hiện nay QLNL có tầm quan trọng ngày càng cao do: Sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường nên các tổ chức muốn tồn tại và phát triển buộc phải cải tổ tổ chức mình theo hướng tinh giảm, gọn nhẹ, năng động, trong đó yếu tố con người mang tính quyết định; sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật cùng với sự phát triển cùa nền kinh tế buộc các nhà quản trị phải biết thích ứng. Do đó việc tuyển dụng, sắp xếp, đào tạo, điều động nhân sự trong tổ chức nhằm đạt hiệu quả tối ưu là vấn đề phải quan tâm hàng đầu.