Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. KHÁI NIỆM CHẤT LƯỢNG VÀ CHẤT LƯỢNG BỆNH VIỆN 1. Chất lượng Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm chất lượng, nó tùy thuộc vào việc họ đại diện cho ai trong hệ thống Y tế: từ góc độ người bệnh hay từ góc độ NVYT hoặc góc độ Nhà quản lý, Theo đó: Chất lượng - từ góc độ của người bệnh hay khách hàng - liên quan đến loại hình chăm sóc và tính hiệu quả của nó, có thể chú trọng hơn vào tính tiện ích như: thái độ thân thiện, được đối xử tôn trọng, sự thoải mái, sự sạch sẽ và sự sẵn có của nhiều dịch vụ phù hợp với túi tiền. Nếu nhìn từ góc độ NVYT hoặc cơ sở y tế lại sẽ quan tâm nhiều hơn đến quy trình khoa học của chăm sóc y tế, khả năng chẩn đoán và điều trị một ca bệnh mà ít để ý đến tính tiện lợi và càng ít tập trung vào khía cạnh “chăm sóc” [10].
Từ góc độ Nhà quản lý: họ cho rằng chất lượng là sự tiếp cận, hiệu lực, tính phù hợp, khả năng có thể chấp nhận được và hiệu quả trong cung ứng DV CSSK. Chi phí là yếu tố quan trọng đối với nhà quản lý. Vì vậy, khi phải định nghĩa chất lượng là gì, cần phải tính đến quan điểm khác nhau của từng đối tượng. Nếu dựa trên các quy trình, nhiệm vụ và kỳ vọng về kết quả thực hiện thì: “Chất lượng không có một cách ngẫu nhiên mà là kết quả của ý định quyết đoán, nỗ lực nghiêm túc, hướng đi thông minh và sự thực thi khéo léo” [10].
Chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh; dịch vụ chăm sóc sức khỏe Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh là mức độ cung cấp dịch vụ cho cá nhân hoặc cộng đồng có thể làm tăng khả năng đạt được kết quả về sức khoẻ mong đợi và phù hợp với kiến thức về chuyên môn hiện hành. 4 Chất lượng là mức độ dịch vụ y tế cung cấp cho cá nhân hoặc cộng đồng có thể làm tăng khả năng đạt được kết quả về sức khỏe mong đợi và phù hợp với kiến thức về chuyên môn hiện hành. Hiện nay, Quản lý chất lượng BV là xu hướng chung của các nước trên thế giới. Tại Việt Nam, BYT đang triển khai thực hiện bộ tiêu chí đánh giá chất lượng BV nhằm cải thiện chất lượng, cũng như hạn chế những rủi ro trong điều trị tại các cơ sở KCB [13].
Người bệnh hay “khách hàng” theo thuật ngữ của chiến lược tiếp thị hiện đại ngày càng quan tâm đến chất lượng dịch vụ CSSK, với 3 lý do là: ngày càng có nhiều phương pháp điều trị bệnh khác nhau; số lượng người bệnh mắc các bệnh mãn tính ngày càng nhiều và tổng chi phí cho CSSK ngày càng tăng. Mặc dù vậy, hệ thống y tế ở các quốc gia trên thế giới lại ít thay đổi để đáp ứng với những nhu cầu về chất lượng CSSK ngày càng gia tăng của người bệnh. [10] Nhiều nghiên cứu về quản lý chất lượng thông qua sự hài lòng của khách hàng là đối tượng chính để đánh giá chất lượng các dịch vụ CSSK được cung cấp. Vì bệnh nhân không thể đánh giá được chất lượng chuyên môn do ở vị trí người nhận dịch vụ, người bệnh cho rằng đa số nhân viên y tế có trình độ chuyên môn như nhau.
Như vậy, có nhiều phương thức để đánh giá chất lượng dịch vụ y tế, nhưng ngày nay, sự hài lòng của người bệnh là một nội dung quan trọng của chất lượng bệnh viện [26]. Theo Donabedian có 3 nhóm tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng: Nhóm tiêu chuẩn cấu trúc: các tiêu chuẩn tổ chức, mô hình quản lý, trang thiết bị, cơ sở vật chất cho chăm sóc. Nhóm tiêu chuẩn quy trình: các tiêu chuẩn thực hành nghề nghiệp. Nhóm tiêu chuẩn kết quả: tình trạng sức khỏe của người bệnh, những lợi ích mà người bệnh nhận được từ dịch vụ chăm sóc y tế, sự hài lòng của người bệnh.
Theo hướng dẫn của WHO, khi xem xét chất lượng dịch vụ y tế nói chung phải đồng thời xem xét ba khía cạnh chất lượng là [82]: - Chất lượng đối với BN (patient quality - theo yêu cầu và trải nghiệm của BN); - Chất lượng chuyên môn (professional quality- theo nhu cầu BN và ứng dụng thực hành tốt nhất); - Chất lượng quản lý (có các quy định hiệu quả và đáp ứng yêu cầu) Dịch vụ khám chữa bệnh (DVKCB) là một loại hàng hóa đặc biệt vừa chịu sự quản lý của Nhà nước, vừa mang tính định hướng thị trường. Hoạt động KCB là một quá trình trong đó BN được các bác sĩ (BS), điều dưỡng viên (ĐDV) khám, chẩn đoán, tư vấn một cách rõ ràng về bệnh của mình và cách điều trị cũng như phòng bệnh sau này [15], [20], [82]. Tuy nhiên chất lượng DVKCB không chỉ dừng lại ở chỗ BN được điều trị khỏi bệnh. Chất lượng này còn chịu sự tác động của nhiều yếu tố như: thái độ ứng xử của đội ngũ BS, ĐDV, quy trình thực hiện các thủ tục giấy tờ, về cơ sở vật chất, vệ sinh, chi phí KCB.
Cho nên để đảm bảo được chất lượng DVKCB tốt các cơ sở y tế cần có sự kiểm tra đánh giá thường xuyên các yếu tố trên, nhằm đi đến mục đích chung của xã hội là bảo vệ sức khoẻ toàn dân. Chất lượng là mức độ mà dịch vụ y tế cung cấp cho cá nhân hoặc cộng đồng có thể làm tăng khả năng đạt được kết quả về sức khỏe mong đợi và phù hợp với kiến thức về chuyên môn hiện hành [75], [76]. - Các thành phần cấu thành chất lượng DVKCB: Chất lượng trên phương diện kỹ thuật: được thể hiện qua các chỉ tiêu, cho nên có thể đo lường đánh giá định lượng, là một căn cứ quan trọng để đánh giá chất lượng DVKCB. Đối với công tác khám chữa bệnh thì chất lượng kỹ thuật 6 là sự am hiểu về tình trạng sức khỏe của BN đối với bản thân, những hiểu biết về cách phòng chống và điều trị bệnh tại nhà, bệnh tình đã được chữa khỏi khi xuất viện, không phải tái khám nhiều lần [15].
Tuy nhiên, đối với ngành DVKCB, chất lượng trên phương diện kỹ thuật không phải là tất cả, vì trong quá trình cung cấp DVKCB còn có sự tương tác, giao tiếp trực tiếp kéo dài giữa BN và đội ngũ BS, ĐDV [13], [20], [45]. Do vậy, cảm nhận về chất lượng của BN còn bị tác động bởi cách thức mà chất lượng kỹ thuật được mang đến cho họ. Đó là chất lượng chức năng. Chất lượng dịch vụ y tế Chất lượng dịch vụ y tế có những đặc tính riêng và cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất và cách đo lường thống nhất.
Có một số định nghĩa về chất lượng dịch vụ y tế có tính khái quát cao và thường được sử dụng, theo báo cáo tổng quan ngành y tế Việt Nam năm 2012 thì các khái niệm chất lượng phục vụ là: + Chất lượng DVYT bao hàm hai cấu phần riêng biệt là chất lượng vận hành (functional quality), tức là cách thức người bệnh được nhận dịch vụ (chất lượng thức ăn, tiếp cận dịch vụ) và chất lượng chuyên môn (technical quality), tức là chất lượng của việc cung ứng dịch vụ KCB (năng lực và kết quả điều trị). + Chất lượng dịch vụ KCB bao gồm cả việc ứng dụng khoa học và kỹ thuật y khoa theo cách thức nào đó để tối đa hóa lợi ích về sức khỏe mà không làm gia tăng các rủi ro tương ứng do ứng dụng các kỹ thuật này. Do đó, chất lượng dịch vụ KCB chính là mức độ mà dịch vụ y tế được kỳ vọng sẽ đem lại sự cân bằng mong muốn nhất giữa rủi ro và lợi ích. + Chất lượng dịch vụ KCB là mức độ theo đó các dịch vụ y tế mà cá nhân và cộng đồng sử dụng làm tăng khả năng đạt được kết quả sức khỏe mong muốn và phù hợp với kiến thức chuyên môn hiện tại.
+ Chất lượng dịch vụ KCB là hình thức tổ chức các nguồn lực một cách hiệu quả nhất nhằm đáp ứng nhu cầu CSSK của những người có nhu cầu nhất 7 nhằm mục đích phòng bệnh và CSSK, an toàn, không gây lãng phí mà vẫn đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu cao hơn. + Chất lượng dịch vụ y tế là mức độ đạt được các mục đích bên trong của một hệ thống y tế nhằm nâng cao sức khỏe và đáp ứng được kỳ vọng chính đáng của nhân dân. Như chúng ta thấy, các định nghĩa trên đều có sự linh hoạt trong việc xác định chất lượng dịch vụ y tế tùy thuộc vào mục đích và vào điều kiện hiện tại của hệ thống y tế; đều đề cập tới sự kỳ vọng của nhân dân, đến tính hiệu quả - chi phí của dịch vụ và hiệu quả điều trị của các dịch vụ y tế nhằm đạt được mục đích cuối cùng là sức khỏe [1]. Chất lượng bệnh viện Trong y học, chất lượng bệnh viện không trừu tượng, tập trung vào đích cuối cùng là chăm sóc, điều trị tích cực cho người bệnh.
Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa điều trị có chất lượng là những điều được thực hiện bằng vận dụng đầy đủ các kiến thức y học và kỹ thuật tiên tiến hiện có vào thực hành chăm sóc điều trị người bệnh. Trong bối cảnh nhu cầu của xã hội ngày càng tăng, đòi hỏi mỗi bệnh viện cần nỗ lực và không ngừng phát huy năng lực, nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh, nhằm đáp ứng sự mong đợi của người dân. Trong những năm qua ngành y tế trong cả nước đã có những đổi mới, chuyển biến tích cực để cải thiện chất lượng khám chữa bệnh, đổi mới về quản lý thông qua việc thiết lập hệ thống quản lý chất lượng tại các cơ sở y tế, đổi mới về kiến thức, quan điểm lấy người bệnh làm trung tâm trong việc chăm sóc và điều trị, cải cách qui trình đón tiếp, hướng dẫn, giảm thủ tục hành chính, giảm thời gian chờ đợi của người bệnh. Chất lượng bệnh viện là toàn bộ khía cạnh liên quan đến người bệnh, người nhà người bệnh, nhân viên y tế, năng lực thực hiện chuyên môn kỹ thuật, các yếu tố đầu vào, yếu tố hoạt động và kết quả đầu ra của hoạt động KCB.
8 Một số khía cạnh chất lượng bệnh viện là khả năng tiếp cận dịch vụ, an toàn, người bệnh là trung tâm, hướng về nhân viên y tế, trình độ chuyên môn, kịp thời, tiện nghi, công bằng, hiệu quả, … [36].