CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU I. Một số khái niệm chung 1. Khái niệm rượu Rượu là một hợp chất đặc biệt có tên gọi hoá học là ethylic alcohol (Ethanol) được tạo ra chủ yếu nhờ quá trình lên men tinh bột và đường có trong nhiều loại hoa quả và ngũ cốc. Trong lĩnh vực tâm thần học, rượu được coi là một loại thuốc tác dụng mạnh, có thể gây nhiễm độc cấp diễn (gây lên say rượu thông thường hoặc say rượu bệnh lý) hoặc nhiễm độc mạn tính gây hại cho nhiều cơ quan phủ tạng ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ, cả cơ thể lẫn tâm thần, nếu lạm dụng nó [15].
Phân loại rượu Có nhiều cách phân loại khác nhau đối với rượu. Các tiêu chí dùng để phân loại rượu thường là: • Theo muc đích sử dung-. Theo tiêu chí này người ta chia rượu ra làm 2 loại: rượu dùng để sản xuất dung môi chất tẩy (methyl alcohol, iso propyl) được sản xuât với khối lượng lớn, giá thành rẻ và rượu để uổng (ethanol) [37]. • Theo nguyên liêu và cách thức chế tao: Theo tiêu chí này người ta phân rượu thành 5 loại như sau: + Brandy: chưng cất từ nước hoa quả, có nồng độ từ 40-50% + Whisky: chưng cất từ ngũ cốc có nồng độ 40-55% + Rum: chưng cất từ các loại hoa quả có hàm lượng đường cao với nồng độ từ 40-55% + Rượu vang/vang đỏ/rượu nâu/rượu sâm banh: chưng cất từ nho, đào, sơri có nồng độ từ 10-22% + Bia: chưng cất từ ngũ cốc, có nồng độ từ 4-8% [37].
• Theo Tổ chức Y tế the giới (WHO): Các loại đồ uống có chứa cồn được chế biến qua quá trình lên men và chưng cất được chia làm 3 loại: 5 + Bia: thường có độ cồn 5% + Rượu nhẹ: thường có độ cồn từ 12-15% + Rượu mạnh: có độ cồn khoảng 40% [8]. Đơn vị rượu/cốc chuẩn "Đơn vị rượu ” là một đơn vị đo lường dùng để quy đổi các loại bia, rượu với nhiều nồng độ khác nhau. Hiện chưa có một quy ước hay thoả thuận nào về việc xác định một “đơn vị rượu chuẩn” chung cho mọi quốc gia, tuy nhiên gần đây các nước trên thế giới đã áp dụng tiêu chuẩn: “Đơn vị rượu” thường có từ 8-14 gram rượu nguyên chất (Pure Ethanol) chứa trong dung dịch đó [35]. “Đơn vị rượu” được áp dụng tại một số quốc gia Quốc gia Đơn vị rượu chuẩn • • (grams ethanol) Vương quốc Liên hiệp Anh 8 Hà Lan 9,9 Australia, Áo, New Zealand, Ba Lan, Tây Ban Nha 10 Phần Lan 11 Đan Mạch, Pháp, Ý, Nam Phi 12 Canada 13,6 Bồ Đào Nha, Mỹ 14 Đơn vị rượu hay được áp dụng nhất là: Một đơn vị rượu (1 unit of alcohol) tương đương với 1 Og rượu nguyên chất chứa trong dung dịch uống.
Như vậy, 1 đơn vị rượu sẽ bằng: 330ml bìa 4%, 125mỉ vang nồng độ 11%, 75ml vang mạnh nồng độ 20%, 40ml rượu mạnh nồng độ 40%) [35]. Mức an toàn trong sử dụng bìa, rượu Mức độ an toàn trong sử dụng bia, rượu được đề ra theo những căn cứ từ kết quả nghiên cứu về các nguy cơ do bia, rượu gây ra đối với sức khoẻ. Với mức độ dung nạp này, những hậu quả của bia, rượu đối với sức khoẻ thường ở mức tối thiểu. 6 Tốt hơn hết là không nên uổng bia, rượu; nếu đã uống chỉ nên giữ ở mức dưới 3 đơn vị rượu/ngày đối với nam và dưới 2 đơn vị rượu/ngày đổi với nữ [34], Bảng 2.
Khuyến nghị về mức độ sử dụng bia, rượu an toàn cho sức khoẻ tại một số quốc gia [34] Quốc gia Lượng rượu sử dụng Nam Nữ Australia 40g/ngày hoặc 280g/tuần 20g/ngày hoặc 140g/tuần Cộng hoà Séc 24g/ngày 16g/ngày Italy 24-36g/ngày 12-24g/ngày Hà Lan 39g/ngày 39g/ngày New Zealand 60g/ngày hoặc 210g/tuần 40g/ngày hoặc 140g/tuần Thuỵ Điển 20g/ngày 20g/ngày Vương quốc Anh 32g/ngàyhoặc 168g/tuần 24g/ngày hoặc 112g/tuần Mỹ 42g/ngày hoặc 196g/tuần 28g/ngày hoặc 98g/tuần 5. Lạm dụng bia, rượu: Một người uống rượu tuy chưa nghiện, nhưng vẫn có thể làm hại cho sức khoẻ. Do vậy dù vô tình hay chỉ là để tuân thủ những tập tục mà sử dụng rượu với mức độ không thích hợp dẫn đến sự biến đổi về chức năng hoặc xuất hiện một số dấu hiệu về lâm sàng thì được coi là lạm dụng rượu [15]. Theo WHO, phụ nữ uống trên 14 đơn vị rượu mỗi tuần, hơn 2 đơn vị rượu mỗi lần; nam giới uống trên 21 đơn vị rượu mồi tuần, hon 3 đơn vị rượu mồi lần; người trên 65 tuổi uống trên 14 đơn vị rượu mỗi tuần, hơn 2 đơn vị rượu mỗi lần được coi là người lạm dụng bia, rượu [14], Theo DSM-IV, nếu có sự xuất hiện của ít nhất một trong số những biểu hiện sau trong vòng 1 năm thì sẽ được chẩn đoán là LDRB.
■ Sử dụng lặp lại rượu dẫn đến mất khả năng thực hiện các năng lực hành vi: lao động sản xuất, học tập, sinh hoạt. 7 ■ Sử dụng lặp lại rượu trong những tình huống có thể bị nguy hiểm về thế chất. ■ Lặp lại những hành vi phạm pháp liên quan đến việc sử dụng rượu (bị xử phạt vì những hành vi không bình thường do uống rượu). ■ Sử dụng rượu mặc dù biết có thể xảy ra những hậu quả không tốt cho sức khoẻ, cho các mối quan hệ trong gia đình và xã hội.
■ Không có biểu hiện của sự nghiện rượu (lệ thuộc) [15]. Say rượu thông thường. Say rượu thông thường còn gọi là say rượu cấp diễn, là hậu quả của nhiễm độc nhất thời do rượu, thường xẩy ra ở những người LDR, uống quá ngưỡng quy định, dẫn đến những thay đổi hành vi, cảm xúc trong trạng thái ý thức rối loạn, mù mờ không rõ ràng, nhưng vẫn còn khả năng nhận biết xung quanh, trừ trường hợp nhiễm độc trầm trọng. Tuỳ theo lượng rượu uống và khả năng dung nạp của từng cá thể mà say rượu có thể biểu hiện 3 mức độ nhẹ, trung bình và nặng.
Các trường hợp ngộ độc rượu cấp thể nhẹ sau giai đoạn ngủ sâu sẽ tự hồi phục để lại ở người bệnh quên từng mảng. Trong trường hợp ngộ độc cấp nặng (say rượu nặng) có các biếu hiện như: hôn mê, suy hô hấp, truy tim mạch, hạ đường huyết thì cần được cấp cứu tại các trung tâm hồi sức cấp cứu [15]. Say rượu bệnh lý Là một trạng thái ngộ độc rượu cấp rất đặc biệt, hiếm gặp, có thể xảy ra ở người uổng lượng rượu không lớn. Rượu chỉ là tác nhân chủ yếu dẫn đến say rượu bệnh lý, kết hợp với nhiều yếu tố thuận lợi khác như: sự mệt nhọc, thiếu ngủ, đói ăn, suy kiệt, nóng quá mức, khát quá mức, bệnh nhiễm trùng, lo âu, sợ sệt căng thẳng.
Say rượu bệnh lý phát sinh không phụ thuộc vào số lượng và loại rượu. Khởi phát nhanh từ vài phút đến vài giờ. Người bệnh lâm ngay vào tình trạng rối loạn ý thức trầm trọng, mất định hướng, không duy trì được sự tiếp xúc với người xung quanh [15]. Tình hình sử dụng rượu bia 1.
Trên thế giói 1.1 Tinh hình sản xuất và tiêu thụ rượu bia trên toàn cầu Sản xuất rượu bia đã có quá trình phát triển lâu đời trên the giới. Trong thập kỷ cuối của thế kỷ XX, ngành công nghiệp bia trên toàn cầu đã tăng trưởng từ 2- 8%/năm. Tổng sản lượng bia toàn thế giới vào năm 2001 đã vượt quá con số 140 tỷ lít. Đối với ngành công nghiệp rượu, Pháp và các nước Nam Mỹ vẫn luôn đứng đầu về sản xuất và tiêu thụ với mức tăng trưởng đạt 3% [22], [38], Do nhu cầu của thị trường về mặt hàng rượu bia ngày càng tăng và lợi nhuận thu được từ ngành công nghiệp này ngày càng lớn nên trên thế giới đã và đang xuất hiện nhiều tập đoàn đa quốc gia sản xuất và kinh doanh trong lĩnh vực trên.
về tiêu thụ; mặc dù rượu bia là những mặt hàng không được khuyến khích sử dụng nhưng trên thực tế nhu cầu tiêu dùng lại rất lớn và phổ biến ở mọi quốc gia, trừ những nước theo đạo Hồi. Ước tính 1/3 dân sổ the giới (hơn 2 tỉ người) có sử dụng rượu. 80% số người trên 15 tuổi ở Tây Âu, Đông Âu và các nước phát triển ở Tây Thái Bình Dương, 57% dân số ở các nước đang phát triển có sử dụng rượu [29], Mức độ tiêu thụ rượu bia tại các quốc gia có thể thu thập được từ các nguồn như: dữ liệu của các cuộc điều tra hoặc hệ thống giám sát số liệu về sản xuất, kinh doanh mặt hàng này. Tuy nhiên, mức tiêu thụ trong thực tế thường nhiều hơn so với sổ liệu được công bổ của các nước do khó khăn trong kiểm soát lượng rượu bia nhập khẩu bất họp pháp và lượng rượu bia do dân tự sản xuất, không có đăng ký, đặc biệt là ở các nước đang phát triển.
Tại châu Phi, rượu bia sản xuất không đăng ký chiếm phần lớn lượng rượu bia tiêu thụ: Tanzania 90%; Kenia 85%. Đối với bia, mức tiêu thụ bình quân trên toàn cầu là 22 lít/người/năm [22], Châu Âu là khu vực có mức tiêu thụ rượu bia bình quân/người/năm cao nhất. Tính chung toàn châu Âu, lượng rượu bia tiêu thụ bình quân/người/năm là 12,11 lít, gấp 2 lần so với mức chung toàn cầu là 5,81 lít. Châu Mỹ và Tây Thái Bình Dương có mức tiêu thụ rượu bình quân/người/năm là 5 lít.
Khu vực châu Phi, Đông Địa Trung Hải và khu 9 vực Đông Nam Á có mức tiêu thụ bình quân/người/năm là 2 lít [27]. Sử dụng rượu bia đang có khuynh hướng gia tăng nhanh ở khu vực Đông Nam Á, ổn định ở các khu vực khác như: châu Phi, châu Mỹ và Đông Địa Trung Hải. Riêng đối với châu Âu mức độ tiêu thụ rượu bia lại đang có chiều hướng giảm dần. Lượng rượu bia tiêu thụ bình quân/ngưòi/năm theo khu vực [27] 1.2 Các loại rượu bia thường được sử dụng Trên toàn thế giới, có 4 loại rượu bia thường được sử dụng bao gồm [38]: - Rượu bia truyền thống tự nấu tại nhà/sản xuất thủ công: nấu từng mẻ với số lượng ít, sử dụng các nguyên liệu sẵn có ở địa phương, phân phối thường chỉ giới hạn đến các hộ gia đình, các vùng nông thôn lân cận.
- Rượu bia truyền thống sản xuất công nghiệp: loại rượu bia này được sản xuất phù họp với khẩu vị người địa phương, sử dụng các nguyên liệu sẵn có, sản xuất với số lượng lớn, giá thấp và chất lượng ổn định. - Rượu bia theo mẫu/cách của châu Âu được địa phương hoá: có giá rẻ, thường có tên/nhãn mác gần giống với các nhãn rượu bia nổi tiếng trên thế giới.