Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU A. MỘT SÓ KHÁI NIỆM VÈ RƯỢU-BIA 1. Khái niệm chung về rượu Rượu là một hợp chất đặc biệt có tên gọi hoá học là ethylic alcohol (Ethanol) được tạo ra chủ yếu nhờ quá trình lên men tinh bột và đường có trong nhiều loại hoa quả và ngũ cốc. Trong lĩnh vực tâm thần học, rượu được coi là một loại thuốc tác dụng mạnh, có thể gây nhiễm độc cấp diễn (gây lên say rượu thông thường hoặc say rượu bệnh lý) hoặc nhiễm độc mãn tính gây hại cho nhiều cơ quan phủ tạng ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ, cả cơ thể lẫn tâm thần, nếu lạm dụng nó[19].
Phân loại rượu: (Tuỳ theo tiêu chí) • Theo mục đích sử dụng: Theo tiêu chí này rượu được chia làm 2 loại: Rượu dùng để sản xuất dung môi chất tẩy, và rượu để uống (ethanol). • Theo Tổ chức Y tế thế giới, các loại đồ uống có chứa cồn được chế biến qua quá trình lên men và chưng cất được chia thành 3 loại sau: J Bia: có độ cồn từ 1-12%, thường ở khoảng 5% J Rượu nhẹ: có độ cồn từ 12-30%, thường từ 12-15%, s Rượu mạnh: có độ cồn trên 30%, thường từ 30-55% [6],[35]. Rượu với cơ thể Sự hấp thu và bài tiết của rượu. Mức độ hấp thu của rượu tuỳ thuộc vào loại rượu, lượng rượu uống nhiều hay ít, lượng thức ăn đi kèm khi uống, tâm trạng khi uống.
Rượu được hấp thu nhanh, khoảng 20% qua dạ dày, số còn lại được hấp thu qua ruột. Cơ thể thường có phản ứng tự bảo vệ khi lượng rượu đưa vào cơ thể quá cao, niêm mạc dạ dày sẽ bị kích thích tiết ra chất nhầy làm giảm bớt sự hấp thu, cùng lúc đó môn vị co thắt ngăn rượu xuống tá tràng, làm cho người uống buồn nôn và nôn rượu ra ngoài. Thức ăn chất đạm và chất béo làm giảm sự hấp thu của rượu, trái lại nước uống sẽ làm tăng sự hấp thu của rượu, khi vào máu rượu được phân phối khắp cơ thể. Nhiễm độc rượu là khi nồng độ rượu trong máu trên 0,15% thể 8 tích.
Khoảng 10% lượng rượu được đào thải ra ngoài bằng đường hô hấp, còn phần lớn rượu được khử ở gan và đào thải qua nước tiểu. Rượu đoi với não. Rượu không phải là chất kích thích mà làm suy giảm cả hai quá trình hưng phấn và ức chế hệ thần kinh trung ương. Nhưng rượu làm mất ức chế mạnh hơn nên tạo ra hưng phấn giả, vì vậy người uống rượu cảm thấy hưng phấn, đỡ lo âu, sợ hãi, hoạt động nhiều, nói nhiều, khả năng tự kìm chế bản thân suy giảm, nên lời nói thiếu tế nhị, xuồng xã, xàm xỡ, cử chỉ hoạt động thiếu chính xác.
Rượu ảnh hưởng đến các cơ quan khác. Tác động lên tuyến yên, gây rối loạn sự tăng trưởng, rối loạn kinh nguyệt, rối loạn chuyển hoá nước và muối khoáng. Gây viêm dạ dày, viêm tuy, xơ gan, thoái hoá gan, tăng lắng đọng choleterol ở mạch máu và ở tim, gây vữa xơ động mạch, nhồi máu cơ tim[19]. Nghiện rượu Nghiện rượu theo ý niệm xã hội là sự thèm muốn mãnh liệt dẫn đến đòi hỏi thường xuyên phải uống rượu, gây lên rối loạn tư cách, thói quen, khả năng lao động và giao tiếp xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe và hao tổn về kinh tế.
Còn theo y học thì nghiện rượu là một loại bệnh nằm trong nhóm bệnh lý nghiện chất Toxicomanie được mã hoá F10-F19. Theo tiêu chuẩn chẩn đoán ICD 10 thì một người được coi là nghiên rượu khi có 3 trong 6 triệu trứng sau. • Thèm muốn mãnh liệt hoặc cảm thấy bắt buộc phải sử dụng rượu. • Khó khăn trong việc kiểm tra tập tính sử dụng: thời gian, mức độ uống hàng ngày.
• Xuất hiện hội chứng cai khi ngừng sử dụng rượu hoặc giảm liều, cụ thể là: lo âu, vã mồ hôi, nôn mửa, co rút, trầm cảm, đau mỏi, rối loạn nhịp tim, cáu bẳn thô bạo., và có ý định uống rượu lại để né tránh hoặc giảm nhẹ hội trứng cai. • Tăng mức độ dung nạp • Dần dần sao nhãng những thú vui hoặc sở thích trước đây. • vẫn tiếp tục uống mặc dù đã hiểu rõ tác hại của rượu đối với cơ thể và tâm thần. Khi có từ 3 biểu hiện trên trở lên trong vòng 1 năm sẽ được chẩn đoán là nghiện rượu.
Quá trình nghiện rượu diễn ra chậm, khó nhận biết và qua 4 giai đoạn là: triệu chứng, tiền nghiện, nguy kịch và mạn tính [19]. Lạm dụng rượu (Alcohol abuse) Khải niệm: Một người uống rượu tuy chưa nghiện, nhưng vẫn có thể làm hại cho sức khoẻ. Do vậy dù vô tình hay chỉ là để tuân thủ những tập tục mà sử dụng rượu với mức độ không thích họp dẫn đến sự biến đổi về chức năng hoặc xuất hiện một số dấu hiệu về lâm sàng thì được coi là lạm dụng rượu (LDR)[19]. Đơn vị nước uống tiêu chuẩn: Hiện chưa có một quy ước hay thoả thuận về việc xác định một “đơn vị rượu tiêu chuẩn ” chung cho mọi quốc gia, tuy nhiên gần đây các nước trên thế giới đã áp dụng tiêu chuẩn “đơn vị rượu” thường có từ 8-14 gam rượu nguyên chất chứa trong dung dịch đó.
Đon vị rượu hay áp dụng nhất là tương đương với 10 gam rượu nguyên chất trong dung dịch đó. Như vậy một đơn vị nước uống tiêu chuẩn tương đương với: một non bia 330 ml 5%, hoặc 1 ly rượu vang 75 ml nồng độ 20% hoặc 1 chén rượu mạnh 40 ml nồng độ 40%. Tiêu chuẩn xác định LDR: Với nam giới được coi là LDRB khi uống trên 3 đơn vị/ngày, hoặc trên 15 đơn vị/tuần, hoặc uổng rượu trên 5 ngày/tuần. Với nữ giới là trên 2 đơn vị/ngày hoặc trên 10 đơn vị/tuần, hoặc uống rượu trên 5 ngày/tuần[24].
Sử dụng rượu ở mức độ an toàn'. Là SDRB nhưng không gây ra hành vi nguy cơ, không lạm dụng và không nghiện. Theo WHO, mức độ an toàn với nam là không uống quá 3 đơn vị rượu/ngày với nữ không quá 2 đơn vị rượu/ngày[24]. Theo DSM-IV, nếu có sự xuất hiện của ít nhất một trong số những biểu hiện sau trong vòng 1 năm thì sẽ được chẩn đoán là lạm dụng RB ■Sử dụng lặp lại rượu dẫn đến mất khả năng thực hiện các năng lực hành vi: lao động sản xuất, học tập, sinh hoạt.
■Sử dụng lặp lại rượu trong những tình huống có thể bị nguy hiểm về thể chất. ■Lặp lại những hành vi phạm pháp liên quan đến việc sử dụng rượu (bị xử phạt vì những hành vi không bình thường do uống rượu) ■Sử dụng rượu mặc dù biết có thể xảy ra những hậu quả không tốt cho sức khoẻ, cho các mối quan hệ trong gia đình và xã hội. ■Không có biểu hiện của sự nghiện rượu (lệ thuộc)[19]. Say rượu thông thường.
Say rượu thông thường còn gọi là say rượu cấp diễn, là hậu quả của nhiễm độc nhất thời do rượu, thường xẩy ra ở những người LDR, uống quá ngưỡng quy định. Dần đến những thay đổi hành vi, cảm xúc trong trạng thái ý thức rối loạn, mù mờ không rõ ràng, nhưng vẫn còn khả năng nhận biết xung quanh, trừ trường họp nhiễm độc trầm trọng. Tuỳ theo lượng rượu uống và khả năng dung nạp của từng cá thể mà say rượu có thể biểu hiện 3 mức độ nhẹ, trung bình và nặng. Các trường họp ngộ độc rượu cấp thể nhẹ sau giai đoạn ngủ sâu sẽ tự hồi phục để lại ở người bệnh quyên từng mảng.
Trong trường họp ngộ độc cấp nặng (say rượu nặng) có các biểu hiện như: hôn mê, suy hô hấp, truy tim mạch, hạ đường huyết thì cần được cấp cứu tại các trung tâm hồi sức cấp cứu[19]. Say rượu bệnh lý Là một trạng thái ngộ độc rượu cấp rất đặc biệt, hiếm gặp, có thể xảy ra ở người uống lượng rượu không lớn. Rượu chỉ là tác nhân chủ yếu dẫn đến say rượu bệnh lý, kết hợp với nhiều yếu tố thuận lợi khác như: sự mệt nhọc, thiếu ngủ, đói ăn, suy kiệt, nóng quá mức, khát quá mức, bệnh nhiễm trùng, lo âu, sợ sệt căng thẳng. Say rượu bệnh lý phát sinh không phụ thuộc vào số lượng và loại rượu.
Khởi phát nhanh từ vài phút đến vài giờ. Người bệnh lâm ngay vào tình trạng rối loạn ý thức trầm trọng, mất định hướng, không duy trì được sự tiếp xúc với người xung quanh[19]. MỘT SÔ NGHIÊN cứu VÈ LẠM DỤNG RƯỢU BIA Ở NƯỚC NGOÀI 1. Bệnh mãn tính, lối sống và sức khoẻ tâm thần của VTN Theo Miauton L và cs ở trường Đại học Lausanne Thuỵ Sỹ, tiến hành năm 2003, phương pháp NC là thu thập số liệu từ cuộc điều tra sức khoẻ VTN ở Thuỵ Sỹ, cỡ mẫu là 9268 VTN tuổi từ 15-20 trong các trường học, bằng phát vấn bộ câu hỏi tự điền, kết quả có: 6,3% các cô gái cho biết đã từng lái xe trong tình trạng say rượu trong vòng 12 tháng qua, có 17% nữ và 43% nam đã từng uống rượu.
Hậu quả 11 về sức khoẻ tâm thần là rất nghiêm trọng: Có 7,7% nữ và 4,3% nam đã thử tự tử trong vòng 12 tháng trước khi điều tra. MLQ giữa sử dụng rượu, súng, ma tuý, thuốc lá ở nhà và sức khoẻ của VTN Theo nghiên cứu của Swahn M và Hammig B ở Atlanta Mỹ năm 2000 trên 6504 học sinh VTN từ lớp 7 đến lớp 12, kết quả cho thấy: Việc dễ dàng tiếp cận với rượu, súng, thuốc lá là khá phổ biến ở nhóm VTN và có thể làm tăng một số hành vi nguy cơ, cụ thể là: Tỷ lệ dễ dàng tiếp cận với rượu ở nhà là 28%; vũ khí 25%; ma tuý 3%; thuốc lá 32%. Những VTN dễ dàng tiếp cận với rượu ở nhà thì có nhiều hơn nguy cơ say trong vòng 12 tháng trước điều tra 2,16 lần, say rượu tại trường học 2,33 lần và say rượu khi lái xe 1,64 lần[31 ]. LDRB và suy nhược tâm thần của cha mẹ vói các vấn đề tâm thần ở VTN NC do Peiponen s và cs ở khoa tâm thần học thuộc Viện trường Đại học Kuopio của Phần Lan thực hiện năm 2006 tiến hành trên 70 bệnh nhân tâm thần ở độ tuổi từ 13-18, và bố, mẹ của chúng.
Ket quả cho thấy: Các vấn đề tâm thần có kèm theo LDR ở cha, mẹ có liên quan đến các vấn đề tâm thần của VTN [32]. Hậu quả từ việc sử dụng rượu cùng những chế phẩm của rượu. Đây là NC của Champion HL và cs ở Bắc Mỹ năm 2000. Phương pháp NC là điều tra cắt ngang bằng phỏng vấn qua điện thoại với các đối tượng từ 16-20 tuổi được quản lý trong chương trình quốc gia đánh giá hiệu lực về việc thi hành luật sử dụng rượu.