chương 1 luận văn nêu lên: Khái niệm CTTC, khái niệm mở rộng CTTC, vai trò và các hình thức hoạt động của CTTC. Từ nội dung hoạt động của CTTC luận văn nêu lên sự cần thiết khách quan phải mở rộng CTTC trong nền kinh tế thị trường hiện đại. Thông qua sự phong phú và đa dạng của hoạt động CTTC luận văn làm rõ sự khác nhau cơ bản giữa CTTTC với các hình thức tài trợ vốn khác như bán trả góp, cho vay trả góp; nhưng chung quy lại đây cũng là một hình thức tài trợ vốn cho các doanh nghiệp và có chung một mục đích với các hình thức đầu tư vốn khác của các TCTD và các định chế tài chính phi ngân hang là lợi nhuận, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Đồng thời luận văn cũng nêu lên một số bài học kinh nghiệm trong mở rộng CTTC của các nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển.
Qua đó rút ra bài học kinh nghiệm chung cho Việt Nam trong mở rộng CTTC. 19 Chương 2 THỰC TRẠNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH II~ NGAN HANG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM Ở CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 2. TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ, XÃ HỘI Ở CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 2. Tiềm năng, lợi thế và những thành tựu Theo số liệu thống kê cho thấy: Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vựa lúa lớn của Việt Nam với diện tích 39.
Năm 2004, dân số là 17.514 người, có bờ biển đài trên 700 km, có trên 100 đảo lớn nhỏ, có vùng biển vịnh Thái Lan và biển Đông giàu hải sản, trên 300.000 ha vùng bãi triểu và 1.500km” sông ngồi, kênh rạch nuôi trồng thuỷ sản; ngoài ra ĐBSCL còn có trữ lượng đá vôi, đất sét, cát sỏi đá xây dựng lớn; đặc biệt còn có trữ lượng đầu quy đổi khoảng 5 tỷ tấn. [16] ĐBSCL có hệ sinh thái đa dang, ngot — ld ~ man dan xen nhau. ĐBSCL có nhiều loại cây trồng, vật nuôi phong phú đa dạng. Là vùng đồng bằng nhưng có rừng ngập mặn ven biển, có rừng nguyên sinh Phú Quốc, có rừng tràm ở các vùng Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, tây sông Hậu và bán đảo Cà Mau.
Với trung tâm là Thành phố Cần Thơ, du khách và hàng hoá của ĐBSCL có thể dễ dàng đến các nước ASBAN (ASEAN ~ Association of South East Asian Nations: Hiép héi cdc quốc gia Đông Nam A) chỉ trên đưới một gid bay. 20 Tóm lại: ĐBSCL là vùng tập trung đông dân cư, giầu tiểm năng có thế mạnh cả về nông nghiệp, thuỷ hải sản, công nghiệp chế biến nông thuỷ hải sản, dầu khí và du lịch, có vị trí chiến lược về chính trị, kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh của đất nước, là một vùng trọng điểm phát triển kinh tế của cả nước với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Sau 20 năm đổi mới, đặc biệt 5 năm gần đây ĐBSCL đã đạt nhiều thành tựu rất quan trọng trên nhiều lĩnh vực, cụ thể: Trong vùng hiện đang đóng góp 15,2% GDP (GDP ~ Gross Domestic Product: Tổng sản phẩm quốc nội) cho cả nước, trên 50% sản lượng lương thực, 65% sản lượng thuỷ sản của cả nước, thu nhập bình quân đầu người theo giá so sánh năm 2004 là 4. Kim ngạch xuất khẩu của cả vùng phát triển với tốc độ khá cao, tốc độ bình quân là 19,5%/năm.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo xu hướng tăng dân tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Khu vực công nghiệp xây dựng đặc biệt tăng trưởng nhanh, với tốc độ bình quân là 22,7%/năm. Chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp, đặc biệt ngành thuỷ sản là mạnh mẽ nhất. Tính từ 1995 đến năm 2004 có trên 358 ngàn ha chuyển từ trồng trọt sang nuôi trồng thuỷ sản, với sản lượng nuôi trồng gia tăng tương ứng là 490.
[16] Vốn đầu tư toàn xã hội trong khu vực cũng tăng nhanh. Nếu năm 2000 tổng vốn đâu tư toàn xã hội là 16.760 tỷ VNĐ, thì năm 2004 đã tăng lên 41.128 tỷ VNĐ, tốc độ bình quân là 36,34%/năm. Tỷ lệ vốn đâu tư toàn xã hội trong GDP từ năm 2000 đến năm 2004 tăng từ 23,39% lên 32,72%. [16] 21 Nhìn chung những năm qua ĐBSCL đã có những chuyển biến tích cực, đạt được nhiều thành tựu trong các lĩnh vực kinh tế xã hội, giữ vững ổn định chính trị và bảo đảm quốc phòng an ninh góp phần quan trong vào thành tựu chung của cả nước.
Những hạn chế, yếu kém Bên cạnh những thành tựu trên, nếu so với mục tiêu phấn đấu hoặc so với các vùng khác thì vùng ĐBSCL vẫn còn nhiều mặt hạn chế, yếu kém như: - Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội quá thấp kém, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển, đặt biệt là hạ tầng giao thông còn nhiễu bất cập. Cuối năm 2004 ĐBSCL còn 145 xã chưa có đường giao thông đến trung tâm xã (chiếm 66,2% số xã trong cả nước chưa có đường giao thông đến tận trung tâm xã). [16] Hệ thống cầu đường phục vụ cho sản xuất và dân sinh nhiều nơi bị xuống cấp trầm trọng chưa được đầu tư nâng cấp mở rộng. - Hệ thống thuỷ lợi trước đây xây dựng chủ yếu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, trồng lúa, nay một số vùng chuyển đổi sang nuôi trồng thuỷ sản đã tổ ra không phù hợp.
Một số vùng nuôi tôm, nuôi cá tra, basa tự phát, khai thác tràn lan nguồn lợi tự nhiên, xây dựng Khu công nghiệp (KCN) chưa đánh giá hết về tác động môi trường, chưa cân nhắc kỹ hệ quả về sinh thái, đã làm tăng tình trạng ô nhiễm môi trường đã và đang de doa mục tiêu bảo vệ môi trường sinh thái bền vững và đa đạng sinh học trong toàn vùng. - Chất lượng nguồn nhân lực và hệ thống hạ tầng giáo dục đào tạo còn quá thấp kém so với các vùng khác. Mức phần bổ Ngân sách Nhà nước (NSNN) năm 2005 cho giáo dục đào tạo ở ĐBSCL chỉ bằng 84% mức bình quan chung ca 22 nước. Cơ sở vật chất, trường lớp, trang thiết bị giảng dạy đều thiếu thốn, lạc hậu, chất lượng kém.
[16] - Đầu tử nước ngoài vào trong vùng cũng đạt thấp 5 năm từ 2001 - 2005 chỉ có 326.2 triệu USD vốn thực hiện, chiếm 2,4% so với tổng vốn đầu tư nước ngoài cả nước. [16] Có thể khái quát các mặt còn yếu kém của ĐBSCL như sau: Tăng trưởng kinh tế khá cao nhưng chưa ổn định vững chắc, chưa tương xứng với tiểm năng, lợi thế của vùng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm. Kinh tế phát triển chủ yếu theo chiểu rộng, dựa và khai thác tiểm năng sẵn có là chính, việc đầu tư tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất và các hoạt động kinh tế quan trọng chất lượng hiệu quả và sức cạnh tranh của các sản phẩm sản xuất trong vùng thấp. Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội nhất là hệ thống giao thông chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân do điểm xuất phát thấp và thường xuyên bị lũ lụt tần phá.
Thu hút đầu tư nước ngoài trong toàn vùng đạt thấp. Chất lượng nguồn nhân lực, mặt bằng dân chí thấp hơn mức bình quân chung của cả nước. Đời sống của một bộ phận nhân dân mặc dầu đã được chăm lo nhưng vẫn còn rất khó khăn, nhất là vùng đồng bào ngập lũ thường xuyên và đồng bào Khơme, tỷ lệ hộ nghèo còn khá cao. Công tác chỉ đạo phát triển kinh tế xã hội đối với vùng ĐBSCL thời gian qua còn thiếu tập trung; điểu chỉnh huy hoạch tổng thể và quy hoạch các ngành sau chuyển đổi chậm; đầu tư dàn trải, thiếu đồng bộ, không theo kịp yêu cầu chuyển đổi kinh tế trong vùng, nên hiệu quả đầu tư thấp.
CÁC CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH THUỘC NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM 2. Vài nét về các công ty cho thuê tài chính của Việt Nam Từ sau năm 1990, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh và khá ổn định so với các nước trong khu vực Đông Nam Á. Một trong những yếu tố quan trọng góp phân tạo nên kết quả đó là chính sách đầu tư phát triển kinh tế đã được cởi mở. Các doanh nghiệp có cơ hội đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh.
Bên cạnh các nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài như: ODA, WB,. cdc doanh nghiệp còn được các tổ chức tài chính, TCTD trong nước cho vay hàng chục ngàn tỷ đồng để đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, việc cho vay vốn của các TCTD đối với các doanh nghiệp đặc biệt là vốn trung và dài hạn để trang bị, đổi mới máy móc thiết bị và công nghệ còn gặp nhiều khó khăn, nhiều trở ngại. Do vậy, các doanh nghiệp rất khó khăn trong việc đầu tư máy móc, thiết bị sản xuất ra sản phẩm mới với số lượng, chất lượng giá cả đủ sức cạnh tranh với hàng nhập khẩu và vươn tới xuất khẩu ra thị trường thế giới.
Điển hình như tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM), là trung tâm kinh tế năng động và lớn nhất của cả nước, nhưng theo số liệu báo cáo tổng kết hoạt động năm 2002 của Sở công nghiệp TP.HCM cho thấy: chỉ có 17% doanh nghiệp có thiết bị và công nghệ sản xuất tiên tiến, 52% ở mức độ trung bình và 31% lạc hậu, cũ kỹ thì con số tương ứng trên của doanh nghiệp các ở tỉnh ĐBSCL cần phải đổi mới máy móc, trang thiết bị và công nghệ sản xuất tiên tiến hơn nhiều. [16] Hoạt động CTTC là một trong những kênh tài trợ vốn trung và dài hạn quan trọng cho các doanh nghiệp để trang bị, đổi mới máy móc thiết bị và công 24 nghệ sản xuất. Thuê tài chính có thể khắc phục được những khó khăn, vướng mắc gặp phải khi các doanh nghiệp vay vốn bằng tiền ở các TCTD.
Từ năm 1993, với sự tư vấn của Công ty tài chính Quốc tế (IFC), đã tư vấn cho NHNN Việt Nam nghiên cứu và soạn thảo quy chế về CTTC nhằm đưa công nghệ CTTC vào Việt Nam. Ngày 27/5/1995 Thống đốc NHNN đã ban hành thể lệ tín dụng thuê mua theo quyết định 149/QĐÐ-NH5. Ngày 9/10/1995, Chính phủ ban hàng Nghị định 64/CP về " Quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động ˆ của Công ty cho thuê tài chính tại việt Nam". NHNN ban hành thông tư 03/TT- NHS ngay 9/2/1996 hướng dẫn thi hành nghị định 64/CP.
Chính từ thời điểm này đến cuối năm 1988 hàng loạt Công ty CTTC ra đời .