Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý Y tế (mã số: 972 08 01) của nghiên cứu sinh Võ Đức Chiến, thực hiện tại Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương năm 2026 dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Phan Trọng Lân và PGS. Nguyễn Thị Thi Thơ, có tiêu đề: "Thực trạng hoạt động công tác xã hội tại bệnh viện đa khoa công lập hạng 1, Thành phố Hồ Chí Minh và hiệu quả của một số giải pháp can thiệp".
Tính cấp thiết của luận án bắt nguồn từ yêu cầu chuyên nghiệp hóa công tác xã hội (CTXH) trong ngành y tế nhằm giải quyết các vấn đề tâm lý - xã hội, giảm áp lực kinh tế và nâng cao sự hài lòng của người bệnh. Về hành lang pháp lý, nghề CTXH tại Việt Nam được định hình qua Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg, Quyết định số 2514/QĐ-BYT năm 2011, Quyết định số 112/QĐ-TTg năm 2021, Thông tư số 43/2015/TT-BYT, Nghị định số 93/2021/NĐ-CP, Thông tư số 03/2023/TT-BYT và Thông tư số 51/2024/TT-BYT (có hiệu lực từ ngày 01/3/2025). Mặc dù mạng lưới Phòng hoặc Tổ CTXH đã được thành lập tại nhiều cơ sở y tế, thực tế cho thấy các hoạt động còn thiên về trợ giúp từ thiện truyền thống, vận động tài trợ, thiếu tính đồng bộ và thiếu hụt nhân lực được đào tạo bài bản.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: phần lớn các nghiên cứu trong nước trước đây chỉ dừng lại ở thiết kế mô tả cắt ngang tại một bệnh viện đơn lẻ hoặc tập trung tại khu vực phía Bắc; rất ít công trình đánh giá đồng thời thực trạng theo toàn bộ khung 7 nhóm nhiệm vụ tại nhiều bệnh viện cùng hạng, và hầu như chưa có nghiên cứu can thiệp có tổ chức đánh giá so sánh trước - sau về hiệu quả của các giải pháp nâng cao chất lượng CTXH tại tuyến bệnh viện đa khoa công lập hạng I ở khu vực phía Nam.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được đánh số cụ thể như sau:
- Mô tả thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động công tác xã hội tại 6 bệnh viện đa khoa công lập hạng 1, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2024.
- Đánh giá hiệu quả can thiệp nâng cao chất lượng hoạt động công tác xã hội tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, Thành phố Hồ Chí Minh, 2024 - 2025.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động CTXH theo 7 nhóm nhiệm vụ; người bệnh nội trú và ngoại trú; nhân viên y tế (bác sĩ, điều dưỡng); cán bộ quản lý bệnh viện; nhân viên công tác xã hội và hồ sơ, số liệu thứ cấp về hoạt động CTXH.
- Phạm vi không gian: 6 bệnh viện đa khoa công lập hạng I trực thuộc Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh gồm Bệnh viện Nhân dân 115 (ND115), Bệnh viện Nhân dân Gia Định (NDGĐ), Bệnh viện Nguyễn Tri Phương (NTP), Bệnh viện Trưng Vương (TV), Bệnh viện Nguyễn Trãi (NT) và Bệnh viện An Bình (AB). Địa bàn can thiệp chuyên sâu được thực hiện tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát thực trạng thu thập số liệu năm 2024; can thiệp và đánh giá hiệu quả triển khai từ ngày 01/7/2024 đến năm 2025; hoàn thành luận án năm 2026.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các bằng chứng quốc tế và trong nước về sự hình thành, phát triển và những rào cản của CTXH trong bệnh viện:
Về y văn quốc tế:
- CTXH y tế hình thành từ năm 1905 tại Bệnh viện Đa khoa Massachusetts (Hoa Kỳ) do bác sĩ Richard C. Cabot khởi xướng, gắn liền với sự thành lập của Hiệp hội Nhân viên Công tác Xã hội Hoa Kỳ (NASW). Tại Anh, Dịch vụ Y tế Quốc gia (NHS) ra đời năm 1948 đã tích hợp chính thức CTXH vào hệ thống y tế công cộng.
- Nghiên cứu của Manas GM (2021) chỉ ra ba thách thức cốt lõi: nhận thức hạn chế của nhân viên y tế về vai trò CTXH, các tình huống xung đột đạo đức nghề nghiệp giữa quyền tự quyết của người bệnh và an toàn điều trị, cùng tình trạng thiếu hụt nguồn lực (thời gian, nhân lực, ngân sách).
- Steketee G và cộng sự (2017) qua tổng quan hệ thống ghi nhận 15/16 nghiên cứu báo cáo lợi ích của CTXH y tế về cải thiện kết quả sức khỏe hoặc tiết kiệm chi phí; các nghiên cứu tại Úc ghi nhận nhân viên CTXH chuyên trách giúp rút ngắn thời gian nằm viện của nhóm người bệnh có nguy cơ cao.
- Siegel K và Christ G (1995) nhấn mạnh mô hình CTXH bệnh viện gắn với nghiên cứu khoa học và đánh giá chất lượng; Dobrof J và cộng sự (2024) đề xuất mô hình CTXH tích hợp đa ngành trong hệ thống chăm sóc dựa trên giá trị; Bhagwan R và Heeralal C (2024) phân tích vai trò của CTXH nhi khoa trong việc giải tỏa tâm lý cho bệnh nhi và gia đình; Petersen L và Pretorius E (2022) tại Nam Phi cùng Agwu P (2023) tại Nigeria phản ánh khó khăn khi thiếu khung chính sách và nguồn lực bảo đảm.
Về y văn tại Việt Nam:
- Các đánh giá của Viện Chiến lược và Chính sách Y tế (Bộ Y tế) cung cấp cơ sở xây dựng Thông tư số 43/2015/TT-BYT và Thông tư số 51/2024/TT-BYT, chỉ ra rào cản nhân lực mỏng, thiếu chuẩn năng lực và kinh phí bấp bênh.
- Nguyễn Hải Hữu (2018) nhận định hoạt động CTXH bệnh viện trong nước còn mang tính rời rạc, nặng về từ thiện truyền thống hoặc mang tính tiếp thị; Bùi Thị Mai Đông (2020) khảo sát tại 3 bệnh viện tuyến trung ương ở Hà Nội (Bạch Mai, Nhi Trung ương, K Tân Triều từ tháng 02-12/2018) cho thấy các hoạt động hỗ trợ thủ tục, tiếp nhận tài trợ diễn ra thường xuyên, trong khi tham vấn, trị liệu tâm lý và can thiệp khủng hoảng còn hạn chế.
- Tại Thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Tùng (mẫu 120 định lượng, 15 định tính) phản ánh mạng lưới tổ/phòng CTXH đã phủ khắp các tuyến nhưng chủ yếu tập trung hỗ trợ người nghèo, thiếu can thiệp chuyên sâu. Lý Tiểu Long và cộng sự (2022) khảo sát 634 nhân viên y tế tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, ghi nhận 74,1% nhân viên có kiến thức thấp, 52,21% có thái độ tích cực và 51,29% có thực hành phù hợp về nghề CTXH.
- Khảo sát tại 3 bệnh viện lớn ở Hà Nội của Trần Thị Thanh Hương (2024) trên 116 nhân viên cho thấy năng lực chuyên môn của nhân viên CTXH ở mức trung bình (59,5%), khá (18,1%), tốt (22,4%); các kỹ năng như điều trị giải quyết vấn đề (69,8%) hay liệu pháp nhận thức - hành vi ngắn gọn (69,8%) chưa được thực hiện đầy đủ. Tạ Thị Thanh Thủy (2016) nhấn mạnh tính cấp thiết của CTXH trong bối cảnh quá tải bệnh viện tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về mô hình thực nghiệm: mô hình một cửa “Bồ Công Anh” hỗ trợ phụ nữ và trẻ em bị bạo lực tại Bệnh viện Hùng Vương (theo Quyết định số 4275/QĐ-UBND) đã can thiệp cho 224 trường hợp sau 2 năm; mô hình 6 gói hoạt động hỗ trợ tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương giai đoạn 2017 - 2023 ghi nhận số lượng trợ giúp tăng qua các năm và đạt đỉnh vào năm 2022.
Bảng tổng hợp bằng chứng và khoảng trống nghiên cứu theo 7 nhóm nhiệm vụ của Thông tư số 43/2015/TT-BYT:
| Nhóm nhiệm vụ theo Thông tư 43/2015/TT-BYT |
Bằng chứng nghiên cứu quốc tế |
Bằng chứng nghiên cứu tại Việt Nam |
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết |
| 1. Hỗ trợ, tư vấn giải quyết vấn đề CTXH |
Lập kế hoạch xuất viện giảm tái nhập viện; rút ngắn ngày nằm viện; sàng lọc nhu cầu xã hội tiết kiệm chi phí. |
Hỗ trợ thủ tục được đánh giá cao; tham vấn tâm lý, can thiệp khủng hoảng ít triển khai; người bệnh nhận hỗ trợ thủ tục chủ yếu từ nhân viên y tế. |
Thiếu số liệu chi tiết theo từng nội dung (đón tiếp, thăm hỏi, hỗ trợ khẩn cấp, chuyển tuyến) tại nhiều bệnh viện cùng hạng; thiếu đo lường dịch vụ chuyên sâu. |
| 2. Thông tin, truyền thông và phổ biến pháp luật |
Biện hộ và cung cấp thông tin là vai trò cốt lõi; chuyển đổi số và truyền thông đa phương tiện giúp mở rộng tiếp cận. |
Truyền thông nhóm chỉ đạt 52% người bệnh nội trú; rào cản lớn về nhân lực chuyên trách, tài liệu mẫu và kinh phí triển khai. |
Chưa so sánh mức độ triển khai giữa các bệnh viện đa khoa cùng hạng; chưa đo lường mức độ nhận biết của người bệnh về dịch vụ CTXH. |
| 3. Vận động, tiếp nhận tài trợ |
Các nước phát triển không xem vận động tài trợ là chức năng chính của CTXH; an sinh xã hội bảo đảm nguồn lực. |
Hoạt động thường xuyên nhất (87,8%); kinh phí hỗ trợ người bệnh phụ thuộc chủ yếu vào nguồn tài trợ tự nguyện, thiếu ổn định. |
Chưa đánh giá quy mô nguồn quỹ, cơ chế điều phối và mức độ sẵn sàng của quỹ hỗ trợ khẩn cấp giữa các bệnh viện. |
| 4. Hỗ trợ nhân viên y tế |
Chăm sóc sức khỏe tại nơi làm việc giúp giảm hội chứng kiệt sức nghề nghiệp và gia tăng sự gắn kết của nhân viên y tế. |
Dịch vụ CTXH dành cho nhân viên y tế hầu như chưa được triển khai tại các bệnh viện công lập ở Thành phố Hồ Chí Minh. |
Chưa có số liệu thực chứng về hoạt động động viên, tham vấn cho nhân viên y tế; chưa đo mức độ hài lòng của nhân viên y tế với CTXH. |
| 5. Đào tạo, bồi dưỡng |
CTXH y tế tích hợp đạo đức y khoa và thực hành liên ngành; gắn đào tạo với nghiên cứu thực nghiệm. |
Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng chỉ đạt 32,1%; kiến thức của nhân viên y tế về CTXH còn thấp; năng lực nhân viên ở mức trung bình. |
Chưa có dữ liệu về đào tạo thực hành cho sinh viên và bồi dưỡng chéo kiến thức giữa nhân viên y tế và nhân viên CTXH tại bệnh viện hạng I. |
| 6. Tổ chức mạng lưới cộng tác viên |
Trao quyền cho nhóm liên ngành; phối hợp chính thức giữa nhân viên CTXH và mạng lưới chăm sóc ban đầu. |
Mô hình quản lý hàng dọc phổ biến; sự phối hợp giữa các khoa phòng còn mang tính phi chính thức, thiếu quy chế cụ thể. |
Chưa mô tả tỷ lệ bao phủ và hiệu quả hoạt động của mạng lưới cộng tác viên CTXH tại các khoa lâm sàng, cận lâm sàng. |
| 7. Hoạt động CTXH tại cộng đồng |
Chăm sóc dựa vào cộng đồng gắn với y tế cơ sở; kết nối liên tục bệnh viện - gia đình - cộng đồng sau xuất viện. |
Chủ yếu là các đợt khám bệnh, phát thuốc từ thiện, tặng quà nhân đạo theo thời điểm, thiếu tính bền vững dài hạn. |
Chưa có số liệu thống kê về tần suất, quy mô và cơ chế phối hợp hoạt động cộng đồng của các bệnh viện đa khoa hạng I. |
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án tập trung giải quyết là cung cấp bộ dữ liệu thực trạng đồng bộ theo 7 nhóm nhiệm vụ tại 6 bệnh viện hạng I, đồng thời kiểm định hiệu quả của các biện pháp can thiệp có tổ chức tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên khung phân tích hệ thống y tế của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) gồm sáu cấu phần cơ bản: lãnh đạo - quản trị; nhân lực y tế; tài chính y tế; thuốc, trang thiết bị và công nghệ; hệ thống thông tin y tế; và cung ứng dịch vụ. Khi áp dụng vào phạm vi bệnh viện đa khoa công lập, tác giả cụ thể hóa thành 5 nhóm yếu tố tác động:
- Cơ cấu tổ chức, chính sách và quy trình vận hành (sự quan tâm của lãnh đạo, quy chế phối hợp liên khoa, quy trình thao tác chuẩn SOP).
- Nhân lực thực hiện CTXH (số lượng, vị trí việc làm theo Thông tư số 03/2023/TT-BYT, trình độ đào tạo chuyên môn).
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị và công nghệ thông tin (hệ thống thông tin bệnh viện HIS, phần mềm quản lý ca, phòng tư vấn riêng biệt).
- Nguồn lực tài chính và quỹ huy động (ngân sách bệnh viện, nguồn xã hội hóa, quỹ tài trợ theo Nghị định số 93/2021/NĐ-CP).
- Yếu tố từ phía người bệnh và môi trường bên ngoài (chính sách pháp luật, tình trạng bệnh lý, hoàn cảnh kinh tế - xã hội).
Cấu phần "Cung ứng dịch vụ" được định lượng thông qua mức độ thực hiện 7 nhóm nhiệm vụ theo Thông tư số 43/2015/TT-BYT và phân tích tính chuyển tiếp sang quy trình 5 bước dịch vụ CTXH của Thông tư số 51/2024/TT-BYT. Quá trình can thiệp áp dụng khung can thiệp phức hợp của Hội đồng Nghiên cứu Y khoa Vương quốc Anh (MRC).
Phương pháp nghiên cứu kết hợp định lượng và định tính:
- Nghiên cứu định lượng cho Mục tiêu 1: Thiết kế mô tả cắt ngang. Khảo sát 442 người bệnh và 451 nhân viên y tế tại 6 bệnh viện đa khoa công lập hạng I (Nhân dân 115, Nhân dân Gia Định, Nguyễn Tri Phương, Trưng Vương, Nguyễn Trãi, An Bình) năm 2024. Thu thập số liệu thứ cấp bằng biểu mẫu chuẩn hóa tại cả 6 bệnh viện (n=6). Thang đo sự hài lòng ứng dụng khung chất lượng dịch vụ SERVQUAL.
- Nghiên cứu định tính cho Mục tiêu 1: Phỏng vấn sâu lãnh đạo bệnh viện, cán bộ quản lý khoa/phòng, nhân viên y tế và người bệnh nhằm làm rõ các yếu tố cản trở và thuận lợi trong vận hành CTXH.
- Nghiên cứu can thiệp cho Mục tiêu 2: Thiết kế can thiệp có so sánh trước - sau can thiệp (2024 - 2025) tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương. Đánh giá sự biến thiên về tổ chức bộ máy, nhân lực, nguồn tài chính và 6 gói hoạt động hỗ trợ người bệnh. Khảo sát người bệnh ở hai thời điểm trước và sau can thiệp để tính chỉ số hiệu quả (CSHQ).
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Sử dụng mô hình hồi quy đa biến để xác định các yếu tố liên quan đến sự hài lòng của người bệnh và nhân viên y tế; tính toán tỷ số hiện mắc (Prevalence Ratio - PR), khoảng tin cậy 95% (KTC) và hiệu chỉnh hệ số thiết kế (Design effect - DE).
- Đạo đức nghiên cứu: Nghiên cứu được thông qua bởi Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học (IRB); đối tượng tham gia ký Phiếu thông tin và chấp thuận tham gia nghiên cứu (Phụ lục 6 dành cho người bệnh, Phụ lục 7 dành cho nhân viên y tế); toàn bộ thông tin được mã hóa bảo mật.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 trình bày khái niệm CTXH y tế của IFSW và Bộ Y tế, đối chiếu giữa Thông tư số 43/2015/TT-BYT (tiếp cận theo 7 nhóm nhiệm vụ) và Thông tư số 51/2024/TT-BYT (tiếp cận theo 5 bước dịch vụ chuyên nghiệp và 3 mô hình tổ chức: Tổ, Phòng, Trung tâm CTXH). Tác giả phân tích lịch sử CTXH y tế từ mô hình bác sĩ Richard C. Cabot (1905), hệ thống Almoner tại Anh, dịch vụ NHS (1948) đến quá trình phát triển tại Việt Nam qua các Đề án 32, Đề án 2514, Quyết định số 112/QĐ-TTg, Nghị định số 93/2021/NĐ-CP và định mức chức danh nghề nghiệp 1 - 3% theo Thông tư số 03/2023/TT-BYT.
Chương này cũng phân tích 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng bên trong và các yếu tố bên ngoài (chính sách, cạnh tranh, công nghệ). Phần giới thiệu địa bàn xác định 6 bệnh viện hạng I thuộc Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh là tuyến khám chữa bệnh đa khoa có quy mô lớn (700 - 1.600 giường, 33 - 45 khoa phòng; điều trị nội trú khoảng 15.000 lượt và khám ngoại trú từ 0,5 đến 1,3 triệu lượt/năm mỗi đơn vị).
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp nghiên cứu cho hai mục tiêu. Tác giả trình bày công thức tính cỡ mẫu, quy trình chọn mẫu định lượng (442 người bệnh, 451 nhân viên y tế) và phân bố mẫu phỏng vấn sâu định tính. Chương này xác định các biến số độc lập (nhân khẩu học, đặc điểm nằm viện, chức danh chuyên môn) và biến số kết cục chính (mức độ tiếp cận dịch vụ, điểm hài lòng theo thang SERVQUAL). Khung logic can thiệp tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương được chuẩn hóa thành các gói can thiệp đầu vào (tổ chức, quy trình, nhân lực, công nghệ) nhằm tác động đến các gói hỗ trợ đầu ra. Quy trình thu thập số liệu thứ cấp tại 6 bệnh viện (n=6), kỹ thuật phân tích thống kê (hồi quy đa biến, PR, CSHQ) và kiểm soát sai số thông qua thử nghiệm bộ công cụ được quy định chặt chẽ.
Chương 3: Thực trạng hoạt động công tác xã hội và hiệu quả can thiệp
Kết quả nghiên cứu thực trạng tại 6 bệnh viện hạng I năm 2024:
- Tổ chức và nhân lực: Cả 6 bệnh viện (AB, ND115, NDGĐ, NT, NTP, TV) đều đã thành lập Phòng CTXH. Tuy nhiên, tỷ lệ nhân viên được đào tạo đúng chuyên ngành CTXH còn thấp; hoạt động hỗ trợ phần lớn dựa vào nhân viên kiêm nhiệm và mạng lưới cộng tác viên tại các khoa phòng.
- Mức độ triển khai 7 nhóm nhiệm vụ: Nhóm nhiệm vụ 1 (hỗ trợ, tư vấn giải quyết thủ tục, viện phí, chuyển tuyến) và nhóm nhiệm vụ 3 (vận động, tiếp nhận tài trợ) có lượt triển khai cao nhất. Nhóm nhiệm vụ 2 (thông tin, truyền thông) thực hiện đều đặn nhưng chủ yếu ở quy mô thông báo hành chính. Nhóm nhiệm vụ 4 (hỗ trợ nhân viên y tế) và nhóm nhiệm vụ 5 (đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu) có tần suất thấp nhất. Nguồn quỹ hỗ trợ người bệnh tại các bệnh viện chủ yếu phụ thuộc vào tài trợ tự nguyện ngoài ngân sách.
- Khảo sát người bệnh (n=442): Đa số người bệnh tiếp cận CTXH ở hoạt động chỉ dẫn đường đi, hỗ trợ thủ tục nhập/xuất viện và nhận hỗ trợ viện phí, bữa ăn từ thiện. Mô hình hồi quy đa biến cho thấy sự hài lòng của người bệnh có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với thời gian tiếp cận dịch vụ sớm, thái độ của nhân viên CTXH và sự rõ ràng của thông tin hướng dẫn chính sách bảo hiểm y tế.
- Khảo sát nhân viên y tế (n=451): Đánh giá của nhân viên y tế cho thấy họ ghi nhận sự cần thiết của CTXH trong việc giảm tải áp lực giao tiếp và hỗ trợ người bệnh nghèo. Tuy nhiên, mô hình hồi quy đa biến chỉ ra rằng sự hài lòng chung của nhân viên y tế bị chi phối bởi mức độ phối hợp liên khoa, sự hiểu biết về chức năng của Phòng CTXH và tính kịp thời của các can thiệp xử lý khủng hoảng tại khoa lâm sàng.
Kết quả can thiệp tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương (2024 - 2025):
- Thay đổi cấu phần đầu vào: Kiện toàn cơ cấu tổ chức Phòng CTXH; ban hành quy trình thao tác chuẩn SOP; ứng dụng hệ thống công nghệ thông tin trong việc theo dõi ca bệnh; chuẩn hóa quy trình phân bổ nguồn tài trợ.
- Kết quả thực hiện các gói can thiệp hỗ trợ người bệnh:
- Gói Hỗ trợ khẩn cấp tại Khoa Cấp cứu: Rút ngắn thời gian xác minh hoàn cảnh và kích hoạt nguồn quỹ trợ giúp ngay khi tiếp nhận.
- Gói Hỗ trợ viện phí: Mở rộng diện tiếp cận cho người bệnh mắc bệnh hiểm nghèo có hoàn cảnh khó khăn.
- Gói Bếp ăn tình thương và Gói Hỗ trợ chi phí sinh hoạt thiết yếu: Chuẩn hóa quy trình cấp phát suất ăn, đồ dùng sinh hoạt, bảo đảm minh bạch nguồn hỗ trợ.
- Gói Chuyến xe nghĩa tình: Tổ chức đưa người bệnh nặng xuất viện hoặc chuyển tuyến an toàn.
- Chỉ số hiệu quả (CSHQ): So sánh hai mẫu người bệnh trước và sau can thiệp cho thấy tỷ lệ tiếp cận các hoạt động CTXH tăng lên rõ rệt; điểm đánh giá sự hài lòng của người bệnh đối với dịch vụ CTXH sau can thiệp cao hơn có ý nghĩa thống kê so với trước can thiệp.
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 thảo luận sâu về thực trạng và nguyên nhân của những tồn tại:
- Sự mất cân đối giữa các nhóm nhiệm vụ: Thực trạng hoạt động CTXH tại 6 bệnh viện hạng I thiên lệch về hỗ trợ thủ tục giản đơn và vận động tài trợ, tương đồng với phát hiện của Bùi Thị Mai Đông (2020) và Nguyễn Thị Thanh Tùng. Các can thiệp tâm lý - xã hội chuyên sâu chưa phát triển do thiếu nhân lực chuyên trách và thiếu cơ chế chi trả tài chính dịch vụ.
- Nhận thức và phối hợp liên ngành: Kết quả nghiên cứu tương thích với khảo sát của Lý Tiểu Long và cộng sự (2022) tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch và nghiên cứu của Manas GM (2021), khẳng định nhận thức của nhân viên y tế là rào cản lớn đối với việc mở rộng vai trò của nhân viên CTXH.
- Hiệu quả của mô hình can thiệp: Việc chuẩn hóa các gói hoạt động tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương chứng minh rằng can thiệp đồng bộ vào cấu phần tổ chức - quy trình - công nghệ mang lại chuyển biến tích cực về tỷ lệ tiếp cận và sự hài lòng của người bệnh, cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mô hình quản lý trường hợp trong bệnh viện công lập.
- Thảo luận về tính chuyển tiếp pháp lý: Việc chuyển đổi từ Thông tư số 43/2015/TT-BYT sang Thông tư số 51/2024/TT-BYT là xu hướng phù hợp nhằm lượng giá CTXH như một dịch vụ y tế chuyên môn có quy trình kỹ thuật và hồ sơ lưu trữ hoàn chỉnh.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận:
- Luận án vận dụng khung 6 cấu phần hệ thống y tế của WHO để xây dựng khung đánh giá thực trạng và can thiệp CTXH cấp cơ sở khám chữa bệnh, liên kết chặt chẽ giữa các yếu tố đầu vào (tổ chức, nhân lực, tài chính, công nghệ) với kết quả cung ứng dịch vụ.
- Cung cấp cơ sở khoa học làm rõ tính chuyển tiếp từ cách tiếp cận 7 nhóm "nhiệm vụ" (Thông tư số 43/2015/TT-BYT) sang cách tiếp cận "dịch vụ công tác xã hội" theo quy trình 5 bước (Thông tư số 51/2024/TT-BYT) trong bối cảnh các bệnh viện công lập hạng I tại Việt Nam.
Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bộ cơ sở dữ liệu thực chứng năm 2024 về tổ chức, nhân lực, nguồn tài chính và mức độ triển khai 7 nhóm nhiệm vụ tại 6 bệnh viện đa khoa công lập hạng I lớn nhất Thành phố Hồ Chí Minh.
- Thiết kế, thực hiện và chứng minh hiệu quả thực tế của mô hình can thiệp tổ chức tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương thông qua 6 gói hoạt động hỗ trợ người bệnh (hỗ trợ khẩn cấp cấp cứu, viện phí, bếp ăn tình thương, chi phí sinh hoạt thiết yếu, chuyến xe nghĩa tình).
- Xác định mô hình hồi quy đa biến chỉ ra các yếu tố then chốt tác động đến sự hài lòng của người bệnh (thời gian tiếp cận, thái độ ứng xử, minh bạch thông tin) và nhân viên y tế (cơ chế phối hợp liên khoa, sự hiểu biết về CTXH).
Kiến nghị và giải pháp đề xuất:
- Đối với cơ quan quản lý (Bộ Y tế, Sở Y tế): Triển khai hướng dẫn thực hiện Thông tư số 51/2024/TT-BYT; ban hành danh mục giá và quy trình kỹ thuật dịch vụ CTXH; thực hiện định mức nhân lực 1 - 3% theo Thông tư số 03/2023/TT-BYT.
- Đối với các bệnh viện đa khoa hạng I: Kiện toàn mô hình Phòng CTXH độc lập; xây dựng quy chế phối hợp liên khoa; đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng lực lâm sàng cho nhân viên CTXH; chuẩn hóa quy trình tiếp nhận, quản lý nguồn quỹ tài trợ theo Nghị định số 93/2021/NĐ-CP; đẩy mạnh ứng dụng phần mềm quản lý hồ sơ ca bệnh trên hệ thống HIS.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi địa bàn khảo sát thực trạng mới tập trung tại 6 bệnh viện đa khoa công lập hạng I trực thuộc Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh, chưa mở rộng sang các bệnh viện chuyên khoa hoặc bệnh viện tuyến quận/huyện.
- Mô hình can thiệp nâng cao chất lượng hoạt động CTXH mới được triển khai đơn điểm tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, chưa tiến hành can thiệp đối chứng đa trung tâm.
- Quá trình can thiệp triển khai trong giai đoạn giao thời giữa Thông tư số 43/2015/TT-BYT và Thông tư số 51/2024/TT-BYT, do đó các chỉ số dịch vụ mới phản ánh bước đầu sự chuyển đổi quy trình quản lý ca.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng đánh giá việc áp dụng quy trình 5 bước cung cấp dịch vụ CTXH theo Thông tư số 51/2024/TT-BYT tại các bệnh viện chuyên khoa và tuyến y tế cơ sở.
- Nghiên cứu sâu hơn về hiệu quả chi phí - y tế của các can thiệp CTXH chuyên sâu (tham vấn trị liệu tâm lý, can thiệp khủng hoảng) đối với việc giảm ngày điều trị nội trú và tỷ lệ tái nhập viện.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Các nhà quản lý y tế và Ban Giám đốc các bệnh viện: Cung cấp khung phương pháp luận đánh giá hoạt động CTXH và giải pháp tổ chức bộ máy, xây dựng quy chế phối hợp liên khoa nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh toàn diện.
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Quản lý Y tế, Y tế Công cộng và Công tác xã hội: Cung cấp thiết kế nghiên cứu kết hợp định lượng - định tính (mixed-methods), bộ biến số khảo sát sự hài lòng theo mô hình SERVQUAL và kỹ thuật tính toán chỉ số hiệu quả can thiệp (CSHQ).
- Nhân viên công tác xã hội và nhân viên y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh: Tham khảo quy trình tổ chức các gói hỗ trợ người bệnh (hỗ trợ khẩn cấp tại cấp cứu, chuyến xe nghĩa tình, quản lý quỹ từ thiện) và kinh nghiệm giải quyết các rào cản phối hợp liên chuyên ngành trong bệnh viện.
Câu hỏi thường gặp
1. Thông tư số 51/2024/TT-BYT có những điểm khác biệt căn bản nào so với Thông tư số 43/2015/TT-BYT trong tổ chức hoạt động CTXH bệnh viện?
Thông tư 51 có ba điểm khác biệt cốt lõi: thứ nhất, chuyển từ cách tiếp cận 7 nhóm "nhiệm vụ" hành chính sang cách tiếp cận "dịch vụ công tác xã hội" chuyên môn; thứ hai, quy định chuẩn hóa quy trình cung cấp dịch vụ theo 5 bước (tiếp nhận/đánh giá nhu cầu; xây dựng kế hoạch; thực hiện kế hoạch; theo dõi/điều chỉnh; kết thúc/lưu trữ hồ sơ quản lý ca); thứ ba, linh hoạt hóa mô hình tổ chức cho phép cơ sở y tế lựa chọn thành lập Tổ, Phòng hoặc Trung tâm CTXH tùy theo điều kiện thực tế.
2. Khung phân tích lý thuyết của luận án được vận dụng từ mô hình nào của Tổ chức Y tế Thế giới?
Luận án áp dụng khung 6 cấu phần hệ thống y tế của WHO (lãnh đạo - quản trị, nhân lực, tài chính, thuốc - trang thiết bị - công nghệ, hệ thống thông tin, cung ứng dịch vụ) và cụ thể hóa thành 5 nhóm yếu tố cấp bệnh viện (cơ cấu tổ chức - quy trình; nhân lực; cơ sở vật chất - công nghệ; tài chính - quỹ; người bệnh và yếu tố bên ngoài). Cung ứng dịch vụ được lượng giá thông qua 7 nhóm nhiệm vụ của Thông tư số 43/2015/TT-BYT.
3. Bệnh viện Nguyễn Tri Phương đã triển khai và lượng giá những gói hoạt động hỗ trợ người bệnh cụ thể nào?
Bệnh viện Nguyễn Tri Phương triển khai và đánh giá 6 gói hoạt động hỗ trợ người bệnh chính gồm: "Hỗ trợ khẩn cấp tại Khoa Cấp cứu", "Hỗ trợ viện phí", "Bếp ăn tình thương", "Gian hàng chia sẻ yêu thương", "Hỗ trợ chi phí sinh hoạt thiết yếu" và "Chuyến xe nghĩa tình".
4. Khảo sát thực trạng cho thấy nhóm nhiệm vụ nào của Thông tư số 43/2015/TT-BYT được triển khai nhiều nhất và ít nhất tại các bệnh viện hạng I?
Nhóm nhiệm vụ được triển khai thường xuyên nhất là hỗ trợ, tư vấn thủ tục hành chính, giải quyết viện phí (nhiệm vụ 1) và vận động, tiếp nhận tài trợ từ thiện (nhiệm vụ 3). Ngược lại, các nhóm nhiệm vụ ít được triển khai nhất là hỗ trợ sức khỏe tinh thần cho nhân viên y tế (nhiệm vụ 4) và đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng chuyên môn sâu (nhiệm vụ 5).
5. Định mức nhân lực làm công tác xã hội trong các cơ sở y tế công lập được pháp luật quy định ở tỷ lệ bao nhiêu?
Theo Thông tư số 03/2023/TT-BYT ngày 17/02/2023 của Bộ Y tế, cơ cấu nhóm chức danh nghề nghiệp chuyên môn liên quan khác (bao gồm công tác xã hội, kỹ sư, tâm lý và các chuyên môn khác) được quy định chiếm tỷ lệ từ 1% đến 3% tổng số người làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Võ Đức Chiến đã phản ánh bức tranh thực trạng hoạt động công tác xã hội tại 6 bệnh viện đa khoa công lập hạng I tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2024 theo khung 7 nhóm nhiệm vụ của Thông tư số 43/2015/TT-BYT. Kết quả nghiên cứu chỉ ra sự thiên lệch rõ nét về các hoạt động hỗ trợ thủ tục hành chính và vận động tài trợ, trong khi các can thiệp chuyên môn sâu và hỗ trợ nhân viên y tế còn hạn chế do thiếu hụt nhân lực đào tạo đúng chuyên ngành. Chương trình can thiệp tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương (2024 - 2025) đã chứng minh tính hiệu quả của việc chuẩn hóa quy trình, kiện toàn tổ chức và đa dạng hóa các gói hỗ trợ, mang lại sự cải thiện rõ rệt về mức độ tiếp cận và sự hài lòng của người bệnh. Công trình là cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ lộ trình chuyển đổi sang mô hình cung ứng dịch vụ công tác xã hội chuyên nghiệp theo Thông tư số 51/2024/TT-BYT trong ngành y tế Việt Nam.